Nhạc cụ bộ dây


Nhạc cụ bộ gỗ


Nhạc cụ bộ gõ


Nhạc cụ bộ đồng


Nhạc cụ loại khác


Loại giọng hát

Guitar cổ điển (phần 2)

Guitar cổ điển (phần 1)

Mục lục:  

 
 
 
 
 5. Thế kỷ 18
 - Guitar ở Đức
 - Guitar ở Bỉ và Hà Lan
 - Guitar ở Đông Âu
 - Guitar ở Pháp
 - Những nghệ sĩ và nhạc sĩ của thế kỷ 18
 - Guitar sáu dây
 - Những cây đàn guitar khác thường
 
 6. Thế kỷ 19
 - Mauro Giuliani
 - Fernando Sor
 - Các nghệ sĩ của nước Nga
 - Những nhà soạn nhạc Italia
 - Các nghệ sĩ guitar Tây Ban Nha: Dionisio Aguado, Julian Arcas, Francisco Tarrega
 - Antonio Torres - Người thợ làm đàn tài danh
 - Sự phổ biến của guitar tại Châu Mỹ
 
 7. Thế kỷ 20
 - Julian Bream
 - John Williams
 - Eliot Fisk

******************

 
Trong suốt thế kỷ 17, Italia là trung tâm của guitar trên khắp thế giới và vị thế này còn tiếp tục duy trì đến cuối thời kỳ này. Tuy nhiên sau đó, guitar ở các nước Bắc Âu cũng bắt đầu cuộc đua tranh. Ở Đức, nơi mà cây đàn guitar được phổ biến từ đầu những năm 1600, ngày càng nổi lên. Bên cạnh đó là một số lượng lớn các nhà soạn nhạc và người chơi đàn được biết đến, và họ chính là những đối thủ cạnh tranh đáng gờm với những người Italia.
 
Guitar ở Đức:
 
Âm nhạc thời kỳ Baroque của Đức đã đạt đến đỉnh cao với những bậc thầy về âm nhạc như là Johann Pachelbel (1653-1706), Vincentius Lübeck (1654-1740) và Johann Sebastian Bach (1685-1750). Thế kỷ này còn chứng kiến sự hồi sinh của cây đàn Lute. Bản thân Bach cũng sáng tác rất nhiều tác phẩm cho đàn Lute.
 
Sự phong phú trong tài liệu cũng như sự phát triển của Lute, rốt cuộc cũng kéo theo sự phổ biến của cây đàn guitar. Nhưng sự phức tạp của đàn Lute lại nảy sinh. Có những nơi Lute có không dưới 24 dây. Để chơi tốt một cây đàn như vậy đòi hỏi phải có sự khéo léo và khổ luyện, đồng thời kỹ thuật chơi đàn càng ngày càng khó hơn. Nó trở nên rất khó sử dụng, và vì lẽ đó Lute đã tự tách rời mình và mọi người dần quay trở lại với cây đàn guitar.
 
Số lượng người chơi đàn thời kỳ này cũng ngang bằng với số người soạn nhạc cho dụng cụ này. Johann Arnold (1773-1806), Friedrich Baumbach (1753-1813) và Johann Christian Franz (1762-1814) là một vài nhà soạn nhạc cho solo guitar thời kỳ này. Tuy nhiên, nét riêng biệt của guitar ở Đức thời kỳ này là sự kết hợp sử dụng cây đàn này với các dụng cụ nhạc khác như: guitar với flute; guitar với kèn bassoon; guitar với viola và bass…
 
Cuốn sách lý thuyết về guitar rất quan trọng thời kỳ này của Joseph Friedrich Bernhardt Kaspar Majer là cuốn Neu eröffneter theotischer und praktischer Music-Saal. Đây là cuốn sách đầu tiên cho loại đàn sáu dây. Theo Majer, hệ thống dây của guitar gồm các nốt D-A-D-F#-A-D.
 
Năm 1788, nữ công tước Amalia von Weimar đã mang một chiếc đàn năm dây từ Italia về Weimar. Chiếc đàn này sau đó đã trở thành nguyên mẫu cho thợ làm đàn nổi tiếng Jacob August Otto (1760-1829) dựa theo. Những cây đàn được làm dựa theo cây đàn này trở nên rất phổ biến ở miền nam nước Đức. Vào thập kỷ cuối của thế kỷ 18, Naumann-chỉ huy dàn nhạc ở Dresden-đã yêu cầu Otto thêm vào cây đàn của ông dây bass thứ sáu.
 
Đàn guitar, với sự phổ biến ở Đức, dần dần lan rộng tới những đất nước ở phương Bắc. Ở Đan Mạch, Peter Schall (1762-1820), nghệ sỹ cello, đã sáng tác những bài hát và hợp xướng với phần đệm guitar.
  
Guitar ở Bỉ và Hà Lan:
 
Đất nước Bỉ đã sản sinh ra rất nhiều guitarist nổi tiếng, và một trong số đó là François Le Cocq, một nghệ sỹ violon của Brussels Orchestra. Ông đã viết rất nhiều tác phẩm cho cây đàn guitar dựa trên bản ghi nhạc của Pháp. Sau đó, ông đã xuất bản một tuyển tập các tác phẩm guitar của các bậc thầy thế kỷ 17.
 
Ở Hà Lan bấy giờ có gia đình nhà Cuypers rất nổi tiếng với việc vừa chơi đàn vừa sản xuất nhạc cụ. Họ trở thành một gia đình điển hình tại thành phố The Hague và Amsterdam.
 
Sự ưa thích của cây đàn guitar ở các nước Bắc Âu chỉ sánh ngang được với một số nước Đông Âu như Bohemia, Czechoslovakia và Nga. Johann Baptist Wanhall (1739-1813), một người Bohemia đã soạn các tác phẩm thính phòng trong đó có sử dụng guitar.
 
Ở Czechoslovakia, những truyền thống trong cách chơi guitar được tiếp tục phát triển thêm nhờ những đóng góp của các nhà soạn nhạc như Heinrich Dringeles và những thợ làm đàn như Jean Bourgard ở Praha. Những sản phẩm ngoài guitar còn có mandolin, đàn bass, lute, English guitar và một chiếc mechanic guitar.
 
Về cuối thế kỷ 18, guitar mới bắt đầu đi có một chỗ đứng vững chắc ở nước Nga. Thợ làm đàn tiên phong bắt đầu công việc của họ cùng thời điểm này. Một trong số đó là Ivan Andreyevich Batov. Ông mở xưởng của ông tại Ulm (Đức) vào năm 1780. Vùng này cũng là vùng sản xuất rất nhiều loại nhạc cụ như là guitar, đàn balalaikas, violin và cello.
 
Guitar ở Pháp
 
Ở Pháp guitar là nhạc cụ giành được địa vị cao nhất trong tầng lớp quí tộc. Ở đây, khuynh hướng kết hợp guitar với sự tao nhã trở nên đặc biệt, và sau đó đã được phản ánh lại trong các tác phẩm nghệ thuật đầy tính hoa mỹ. Bức tranh nổi tiếng nhất trong số đó là của Antonie Watteau (1684-1721). Trong bức tranh này, hình ảnh những người mục đồng thang khắp nơi được sắp xếp một cách tài tình với cây đàn guitar trên tay. Những họa sĩ khác ở Pháp cũng vẽ về chủ đề liên quan tới cây đàn guitar còn phải kể tới như Jean Baptiste Pater và Ollivier.
 
Những người Pháp còn có những bước sáng tạo dài trên con đường nghệ thuật với cây đàn guitar. Họ tiếp tục phát triển cách thức mà cây đàn được chế tạo vào thời kỳ đầu và theo mẫu đàn của René Voboam.

 
Sự kế tục này được minh chứng bằng số lượng những cây đàn được làm ra vào thế kỷ 18 này.
 
Một thí dụ điển hình của thế kỷ 18 là cây đàn guitar sáu dây được làm bởi Francisco Lupot vào năm 1773. Salomon guitar (làm bởi Salomon) cũng tương tự cây đàn của Francisco Lupot. Nó ra đời vào khoảng năm 1760 ở Pháp.
 
Cuộc Cách mạng ở Pháp năm 1789 đã khiến rất nhiều nhà quí tộc phải đi lưu vong, nhưng may mắn thay nó không dẫn theo sự sụp đổ của loại nhạc cụ này. Trái lại, trong thời gian này, nó đã tiến thêm một bước nữa trong việc phổ biến mình ở tầng lớp nhân dân. Tất nhiên với không ít những khó khăn, cây đàn guitar không thể giành được lấy sự yêu mến nếu không có sự nỗ lực các nhạc sĩ cũng như các nghệ sĩ trước và sau cuộc Cách mạng.
 
Những nghệ sĩ và nhạc sĩ của thế kỷ 18:
 
- Trille Labarre: một nghệ sĩ bậc thầy về guitar. Ông viết nhạc cho guitar solo, cho guitar với violin cũng như các tác phẩm thanh nhạc với guitar.
 
- Antoine Marcel Lemoine (1763-1877): nhà soạn nhạc nổi tiếng. Ông có thể chơi được cả violin.
 
- B.Vidal: vừa là nghệ sĩ, giảng viên vừa là sáng tác gia. Ông viết bản Nouvelle Méthode cho guitar.
 
- Charles Doisy: nhân vật được coi là nổi bật nhất trong lịch sử của guitar thế kỷ 18 ở Pháp. Ông chơi cả guitar năm dây và sáu dây, viết những chuyên luận cho cả hai loại nhạc cụ này. Ông sáng tác gần 200 tác phẩm cho guitar solo, guitar song tấu với piano, với các nhạc cụ dây cũng như với nhạc cụ hơi. Doisy cũng đã viết không dưới 50 biến tấu với chủ đề Folia d’Espagna (một chủ đề rất phổ biến ở Châu Âu). Hai tác giả người Italia là Arcangelo Corelli và Alessandro Scarlatti cũng viết những biến tấu cho chủ đề này.
 
Sự phát triển ở các nước Châu Âu thời kỳ này được phản ánh bởi sự đối lập tại Tây Ban Nha. Số nghệ sĩ, nhạc sĩ, thợ làm đàn guitar ít hơn rất nhiều nếu so sánh với những gì nó đã đạt được vào thế kỷ trước. Điều này xảy ra có thể bởi trong những thế kỷ trước đây đàn guitar bị lu mờ trước cây đàn Vihuela, và những trường học guitar tại Tây Ban Nha không được chú trọng phát triển cho đến cuối thế kỷ 18. Vào thời gian này, cửa hàng của José và Juan Pages được mở cửa (trong suốt những năm từ 1790 đến 1819) ở Cadiz (Tây Ban Nha), nơi được coi là trung tâm của các loại nhạc cụ.
 
 
- Juan Matabosch, làm việc tại Barcelona, được biết đến là một trong số những thợ làm đàn quan trọng tại Tây Ban Nha vào giai đoạn cuối của thế kỷ 18. Cây đàn guitar đầu tiên của Fernando Sor được làm bởi chính tay Matabosch.

 
- Santiago de Murcia là một trong số những guitarist hàng đầu của thế kỷ 18 tại Tây Ban Nha và cũng là một nhà soạn nhạc.
 
- Cây đàn Vieyra, một thể loại khác của guitar, được làm bởi những người thợ Bồ Đào Nha.
 

 
- Fernando Ferandière được đánh giá rất cao trong số các guitarist thế kỷ 18. Điểm đáng chú ý là đã có 235 tác phẩm của ông được xuất bản từ năm 1785 đến năm 1799. Sự đóng góp quan trọng nhất của Ferandière là tác phẩm Arte de tocar la guitarra española por musica, được xuất bản năm 1799 tại Madrid, nó nói về phương thức sử dụng những ký hiệu hiện đại cho đàn guitar sáu dây.
 
Xuất hiện gần như đồng thời với tác phẩm của Ferandière là cuốn Principios para tocar la guitarra de seis ordenes của Don Frederico Moretti, một nhà soạn nhạc người Italia. Tác phẩm của ông đã xác định những nguyên tắc cơ bản trong kỹ thuật của guitar hiện đại giúp cho guitar có thể phát triển xa hơn. Moretti được F.Sor và Aguado đánh giá rất cao trong tác phẩm này và những cách tân của ông.
 
Trong số vô vàn các nhạc sĩ Italia sáng tác cho cây đàn guitar, người thành công nhất đó chính là Luigi Boccherini (1746-1805). Ông đã đi rất nhiều nơi, biểu diễn cello cùng với Manfredini-một nghệ sĩ violin nổi tiếng và cũng là một sáng tác gia. Cả hai ông đều được mời tới Madrid làm việc. Sau đó, Boccherini làm cho vua Phổ, và ông cảm thấy mãn nguyện với những công việc nhỏ của mình. Sau thời kỳ này, Boccherini học chơi guitar và được mời viết các tác phẩm cho guitar. Vào năm 1799, Boccherini sáng tác bản Symphony Concertante cho guitar, violin, kèn oboe, cello và đàn bass.
 
Sự hoàn thiện của cây đàn guitar ở Italia đã có tác động hết sức mạnh mẽ trên khắp các lãnh thổ khác, đặc biệt là Nam Mỹ. Argentina là nơi đã sản sinh rất nhiều guitarist. Trong số đó có Manuel Macial và Antonio Guerrero là nổi bật hơn cả.
 

 
Rõ ràng việc thêm những sợi dây đàn để hình thành nên guitar sáu dây chính là nhân tố quan trọng nhất trong sự phát triển của guitar. Sự cách tân của nó vào thế kỷ 18 không có một sự lưỡng lự như guitar năm dây của thế kỷ 16. Nguồn gốc của cây đàn guitar sáu dây của Italia được biết tới dựa trên rất nhiều luận cứ:
 
+ Cây đàn chitarra battente của Italia vào cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18 được thêm dây thành sáu dây đàn.
+ Cuốn sách được xuất bản bởi Joseph Friedrich Bernhardt Kaspar Majer nói về hệ thống dây của guitar sáu dây.
+ Cây đàn guitar sáu dây đầu tiên của Đức được làm bởi Otto theo phương thức của người Italia.
 
Người ta không biết chính xác cái ngày mà guitar sáu dây đôi được thay thế bằng guitar sáu dây đơn, nhưng chắc chắn rằng đó là vào khoảng giữa thế kỷ 18 trở lại. Đến giai đoạn cuối thế kỷ này, cây đàn sáu dây đơn đã làm lu mờ tất cả các loại guitar khác ngoài nó.
 
Việc sản xuất guitar sáu dây trở nên có quy chuẩn. Lỗ thoát âm được mở rộng, trong khi chiếc cần đàn dài ra với những phím đàn vừa vặn kéo dài tới tận lỗ thoát âm. Mười chín phím đàn đã trở thành tiêu chuẩn để sản xuất. Ngựa đàn được nâng cao lên, và thân đàn được mở rộng. Những dây có âm cao được làm bằng ruột thú (thay thế bằng dây nylon sau Thế chiến II), còn dây bass được làm bằng những sợi tơ với những vòng dây kim loại quấn bên ngoài.
 

 
Thế kỷ 17 là thời kỳ mà guitar có hàng loạt những thay đổi về cấu trúc. Những nhạc cụ mới và khác thường được tạo nên, những cố gắng trong việc cách tân, một vài trong số đó còn tồn tại đến thế kỷ 19.
 
Sự khao khát tạo nên những âm thanh tốt hơn mang đến cho những người thợ làm đàn những thử nghiệm với những khó khăn lớn. Hầu như những cây đàn đẹp mắt nhất được phát triển vào thế kỷ 18 và 19 đều có sự liên quan mật thiết đến lyre-guitar, harp-guitar và harpolyre.
 
 + Harpolyre:
 

 
Được làm bởi Salomon vào năm 1829, nó được thiết kế với quá nhiều cần đàn, một sự phức tạp đến khó hiểu. Chiếc cần ở giữa gồm 6 dây như những cây đàn guitar bình thường. Cần bên trái gồm 7 dây bass, được lên nửa cung từ nốt A (thấp hơn một quãng tám so với dây thứ 5 ở cần chính) đến nốt Eb (gần với nốt E trầm). Chiếc cần bên phải lại có tận 8 dây. Nó bắt đầu với nốt C (như nốt C ở dây thứ 2 của cần chính) tới nốt C (cao hơn một quãng tám).
 
+ Harp-lutes:

Tất cả những cây đàn Harp-lutes đều bắt đầu xuất hiện vào những năm từ 1798-1830, phần lớn ở London (trừ cây đàn làm bởi Levien ở Paris).
 
Edward Light là người đã làm ra rất nhiều chiếc harp-lute, với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ những cây đàn được sản xuất bởi Clementi, Harley, Wheatstone, Ventura, và cuối cùng là Levien ở Paris.
 
Ngoài hai loại đàn trên còn có Terzguitar và Quartguitar, cũng có mối liên quan khá mật thiết. Cây đàn Terzguitar khá nhỏ so với guitar hiện đại và được lên dây theo hệ thống gồm các nốt: G-C-F-Bb-D-G. Chiếc còn lại cấu tạo cũng tương đối nhỏ, với hệ thống dây gồm các nốt: A-D-G-C-E-A. Rất nhiều nhà sáng tác, trong số đó có Giuliani và Diabelli, đã viết rất nhiều tác phẩm cho những nhạc cụ này. Bass guitar, Terzguitar và Quartguitar tồn tại được không quá một phần tư đầu tiên của thế kỷ 18 này.
 
Một số hình ảnh về những cây đàn Harp-lutes:

 

 

 
Những khuynh hướng phát triển khác nhau của guitar trong các thế kỷ trước, được biết tới qua rất nhiều con đường đã đem tới một nhạc cụ mới – cây đàn guitar 6 dây. Chỉ đến thế kỷ 19, nó mới thực sự đạt tới đỉnh cao của sự phát triển. Guitar 6 dây giờ đây không chỉ còn rải rác ở một vài phần của Châu Âu, mà nó còn vươn tới tận Châu Mỹ và hết sức thành công tại đó.
 
Sự thay đổi của xã hội được mang tới bởi cuộc Cách mạng Công nghiệp đã góp phần phổ biến sâu rộng sự hiểu biết về loại nhạc cụ này. Các nhạc sĩ có thể mang cây đàn đi khắp mọi nơi một cách dễ dàng hơn trước đây. Những chiếc xe lửa chạy xuyên suốt, và những tour lưu diễn được tăng cường đã mang đến cho các guitarist cơ hội biểu diễn chưa từng có trước số đông các khán thính giả.
 
Trong nửa đầu của thế kỷ 19, Vienna chính là trung tâm của sự hồi sinh của guitar. Cũng trong cùng thời điểm này, Vienna trở thành trung tâm âm nhạc lớn nhất, lôi cuốn rất nhiều các nhạc sĩ và nghệ sĩ đến từ khắp Châu Âu. Các guitarist đã đem đến rất nhiều buổi hòa nhạc, góp phần thúc đẩy sự thừa nhận một cách nghiêm túc trước những cống hiến âm nhạc mà guitar đã mang lại.
 
Simon Molitor (1766-1848) là một trong những người nổi tiếng ở Vienna mà ta phải kể tới. Ông viết cho guitar solo và cả những tác phẩm thính phòng có sự tham gia của guitar. Trong số đó có những bản tam tấu dành cho violin hoặc flute, viola và guitar.
 

 
Mauro Giuliani (1781-1829), người Italia, là một trong số những nhân vật tiêu biểu của guitar và âm nhạc thế kỷ 19. Được sự ủng hộ tại Vienna, sau năm 1807, ông đã trở thành một nhà biểu diễn có tầm ảnh hưởng rất lớn. Ông mở rộng các buổi lưu diễn hòa nhạc cho các guitarist, bằng cách đó guitar đã được biết đến ở rất nhiều nơi ở khắp Châu Âu với một vị thế vững chắc. Ở Vienna, Giuliani có một tầm ảnh hưởng hết sức sâu sắc. Chính ông là người đã đề xướng tổ chức các buổi hòa nhạc cho guitar và dàn nhạc. Ông cũng thường xuyên biểu diễn cùng với một số nhạc công nổi tiếng cùng thời gian này.
 
Giuliani có những mối quan hệ gần gũi với Karl Seidler, Spohr, Loder và Anton Diabelli. Trong số đó phải kể tới Anton Diabeli (1781-1858), không những là một trong những guitarist cừ khôi nhất đầu thế kỷ 19, mà còn là một pianist và nhà soạn nhạc xuất sắc. Ông còn là nhà xuất bản hết sức nổi tiếng. Chính sự kết hợp với Giuliani đã mang đến cho ông rất nhiều lợi nhuận. Diabeli đã xuất bản rất nhiều những ấn phẩm về guitar, và Giuliani cũng góp mặt trong số đó. Sự nỗ lực này đã góp phần đưa guitar lên một tầm cao mới, ngày càng được phổ biến sâu rộng hơn.
 
Franz Schubert (1797-1828) đã chơi và viết các tác phẩm dành cho guitar. Ông quá nghèo và không đủ tiền mua cho mình một chiếc piano, thế nên guitar chính là nhạc cụ được ông lựa chọn để sáng tác. Rất nhiều các bản nhạc với những giai điệu đẹp tuyệt vời được dành cho guitar độc tấu, nhưng tác phẩm quan trọng nhất cho guitar của Schubert lại là bản Quartet for flute, guitar, viola and cello.
 
Rất nhiều nghệ sĩ guitar của Italia đã kế tục Giuliani. Nổi bật trong số đó là Luigi Legnani (1790-1877). Ông đã phát triển các kỹ thuật guitar ở trình độ cao, và nó vượt trội hơn hẳn kỹ thuật của Giuliani. Legnani luôn tìm sự cải tiến đối với cây đàn guitar. Rất nhiều các đề xuất của ông đã tạo tiền đề cho sự cải tiến của loại nhạc cụ này. Ngoài ra, ông còn cho ra đời trên 250 tác phẩm bao gồm các bản concerto, song tấu, tam tấu, biến tấu, 36 bản Cappricios và một khúc Scherzo.
 

 
Dẫn dắt cho “Trường phái Biểu hiện” gồm Sor và Aguado (người Tây Ban Nha), Carulli, Carcassi và Giuliani (người Italia). Nổi bật trong số đó, Fernando Sor, là guitarist vĩ đại của thời kỳ Lãng mạn. Ông sinh ra tại Barcelona vào năm 1778 và sau đó được gửi học nhạc tại Tu viện Montserrat.
 
Năm 1797, tại Barcelona, ông tìm thấy trong thư viện một vở opera được viết trên nền là một giai điệu Hy Lạp cổ và tìm cách khôi phục nó. Vở opera Telemachus on Calypso's Isle đã ra đời từ đó.
 
Sor được gọi nhập ngũ để chống lại sự chiếm đóng của quân Pháp. Sau năm 1812, Sor rời đến sống tại Paris, và ông đã để lại những buổi hòa nhạc làm say đắm cả kinh đô hoa lệ ấy.
 
Sor đến Luân Đôn năm 1815, nơi mà ông đã trở thành guitarist đầu tiên được mời diễn biểu diễn chung với Hiệp hội âm nhạc Hoàng gia London. Vào năm 1817, ông xuất hiện với tư cách là một nghệ sĩ độc tấu trong buổi biểu diễn Concertante for Spanish Guitar and Strings (Concertante cho Guitar Tây Ban Nha và các nhạc cụ dây). Trong suốt thập kỷ 1820, ông sang Đức rồi sau đó lại tới Nga. Ba bản ballet đã được ra đời tại Mát-xcơ-va. Vào thời điểm hoàng đế Czar Alexander I băng hà năm 1825, Sor đã viết một bản hành khúc tang lễ theo yêu cầu của hoàng đế mới là Czar Nicholas I. Sau đó ông quay trở lại Pháp, sáng tác và giảng dạy không biết mệt mỏi.
 
Vở ballet Cendrillon của Sor ra đời được khán giả chào đón hết sức nồng nhiệt. Ông cũng viết cả sonata, fantasia, cũng như bộ Variations on a theme by Mozart. Cuốn sách Méthode puor la guitare (tạm dịch là cuốn “Phương pháp học guitar”) xuất bản năm 1830 được coi là cuốn sách hết sức xuất sắc của ông, là thành quả của bốn mươi năm kinh nghiệm bản thân.
 

 
Andreas O.Sichra (1772-1861) được cho là người đã tạo ra cây đàn guitar Nga 7 dây đầu tiên. 75 tác phẩm của ông cho guitar 7 dây đã tạo nên sự phong phú trong các tác phẩm dành cho loại nhạc cụ này.
 
Những phương pháp và nguyên lý giảng dạy của Sichra đã đào tạo nên những guitarist cừ khôi của Nga: Simeon N.Aksenow (1773-1853), nằm trong số những người được tin rằng đang phát triển những kỹ thuật hòa âm của guitar; W.I.Swinzow là một trong số những nghệ sĩ biểu diễn guitar 7 dây đầu tiên tại những khán phòng lớn.
 
Sự vượt trội của guitar 7 dây ở Nga cũng không thể loại bỏ được cây đàn 6 dây ra khỏi cuộc sống âm nhạc trên đất nước này. Marcus D.Sokolowski (1818-1883) là một trong số những guitarist 6 dây nổi tiếng sau khi bắt đầu sự nghiệp của mình là với cây đàn violin và cello.
 
Một trong số những nhạc sĩ người Nga có đóng góp hết sức tốt đẹp cho lịch sử của guitar là Nicolas P.Makarow (1810-1890). Ông đã ghi chép lại những ấn tượng của mình về những cá nhân và khả năng âm nhạc những người chơi guitar nổi tiếng mà ông được nghe và thấy khắp Châu Âu. Năm 1856, ông tổ chức ở Brussels một cuộc thi để tìm ra những bản nhạc guitar hay nhất và cây đàn tốt nhất. Giải nhất và nhì cho tác phẩm hay nhất được trao lần lượt cho Napoléon Coste và Johann Mertz, còn về giải thưởng cho chiếc đàn tốt nhất, nó đã thuộc về cây đàn của Johann Scherzer ở Vienna và của Ivan F.Archusen ở Nga.
 
Năm 1823, bà Hullin Sor, diễn viên múa ballet, đến Nga để biểu diễn một vài vở ballet được viết bởi chồng của bà là Fernando Sor. Sor cũng rời đến Nga, và ông đã viết bản song tấu guitar Souvenir de Russie với ký ức về những con người Nga qua lần đến thăm này.
  

 
Fernando Carulli sinh ra ở Napoli vào năm 1770 và mất tại Paris vào năm 1841. Đầu tiên ông theo học cello, sau đó theo guitar và trở thành một trong những nghệ sĩ Italia tài danh về loại nhạc cụ này. Ở Paris, ông gây dựng tên tuổi của mình bằng những buổi biểu diễn độc tấu, sáng tác 360 bản nhạc và viết ba cuốn phương pháp học guitar mà đến nay vẫn còn rất giá trị. Ông chế tạo ra chiếc guitar có 4 dây bass, và những cuộc biểu diễn độc tấu của ông đã khiến Paris thành một trung tâm lớn của guitar.
 
Người kế tục của Carruli là Matteo Carcassi (1792-1853). Ông đã phát triển những kỹ thuật của guitar lên cao hơn với quyển sách Complete Method for the guitar, và nó trở thành cuốn sách được nhiều người học nhất trong suốt thế kỷ 19. Quay trở lại Paris và đem theo những thành công rực rỡ trong các buổi biểu diễn tại Đức, Italia cũng như tại Anh, những cách thức chơi đàn của ông đã dần thay thế những phương pháp phổ biến của Carulli. Và không ai có thể phủ nhận rằng Carcassi là một nghệ sĩ vĩ đại.
 
Niccolo Paganini (1782-1840) thường được biết đến như một nghệ sĩ bậc thầy về violin nhưng ông còn là một cao thủ về guitar. Số lượng các tác phẩm viết guitar của ông nhiều như cho violin: hầu hết các tuyển tập nhạc đã xuất bản của Paganini đều có một phần guitar trong đó. 140 bản nhạc solo cho guitar, một số bản sonata cho violin và guitar, các bản tứ tấu cho violin, viola, cello và guitar, các bản tam tấu cho guitar và hai nhạc cụ dây. Tình yêu của Paganini với guitar chính là cầu nối giữa ông với rất nhiều nghệ sĩ guitar nổi tiếng trên thế giới, trong số đó co Zani de Ferranti và Legnani.
 
Zani de Ferranti (1800-1878) được nói đến như là nghệ sĩ guitar vĩ đại nhất thời kỳ này. Ferranti đã đi nhiều nơi hơn bất cứ nghệ sĩ ngày đấy. Ông dừng chân tại Mỹ và được công nhận là nghệ sĩ bậc thầy đầu tiên lưu diễn khắp nước Mỹ. Ông cũng sáng tác một số tác phẩm, bao gồm những bản fantasia, nocturne và các khúc biến tấu.
 
Trong những năm này, xuất hiện một nhân vật đầy quan trọng là Napoleon Coste (1806-1883). Khẳng định bản thân tại Paris năm 1830, nơi mà ông gặp gỡ với rất nhiều các guitarist nổi tiếng khác như Aguado, Sor, Carcassi, Carulli, và ông biểu diễn cho đến năm 1863 khi một tai nạn rủi ro đã cướp đi bàn tay phải của ông. Số lượng tác phẩm của ông khoảng 50 bài và ông là một trong những guitarist đầu tiên nỗ lực chuyển biên những ký hiệu âm nhạc thế kỷ 17 sang ký hiệu hiện đại. Thực vậy, đóng góp quan trọng đó của ông đã làm hồi sinh và thúc đẩy sự yêu thích đối với âm nhạc guitar của thời kỳ Baroque.
 
Đóng góp vào sự thành công trong các buổi biểu diễn guitar không thể không nhắc tới vai trò quan trọng của những người thợ làm đàn. Trong số những thợ làm đàn nổi tiếng thời gian này có gia đình Fabricatore. Gennaro Fabricatore đã làm việc trong nửa đầu của thế kỷ 19 và kiểu dáng đàn của ông đã dẫn dắt cho hình mẫu hiện đại của guitar được phát triển vào nửa sau của thế kỷ. Còn ở Paris, René François Lacôte cũng nổi lên như một thợ làm đàn xuất chúng của thời kỳ này.
 
Điều dễ thấy nhất của guitar thế kỷ 19 là một số lượng lớn các buổi lưu diễn, những buổi hòa nhạc thính phòng với sự góp mặt của cây đàn guitar. Trong số những nhà soạn nhạc sở hữu một số lượng tác phẩm đồ sộ gồm có Johann Bayer, Joseph Küffner, Johann Kapeller và Johann Kaspar Mertz (1806-1856). Mertz đã sử dụng guitar 8 dây và sau đó là guitar 10 dây.
 
Có lẽ một trong những sự phát triển đáng chú ý nhất ở thế kỷ 19 là thời kỳ phục hưng của guitar tại Anh. Vào buổi đầu của sự phát triển guitar, đất nước đó hai giai đoạn phát triển, tuy nhiên, ở giai đoạn đầu nó không được chú trọng. Khi London trở lại, vào thế kỷ 19, nó trở thành trung tâm âm nhạc sánh ngang với Paris, Vienna và St-Petersburgh, lôi cuốn một số lượng lớn các guitarist, theo cách đó đã làm hồi sinh và làm sâu sắc thêm sự yêu thích của mọi người với nhạc cụ này. Có thể đoán được rằng, những người thợ làm đàn đã rất thịnh vượng tại Anh thời kỳ này.
 

 
Thế kỷ 19 là thời kỳ mà đất nước Tây Ban Nha đã sản sinh ra rất nhiều danh cầm nổi tiếng. Âm nhạc guitar tại đây phát triển rất hưng thịnh. Cho đến bây giờ, các nghệ sĩ Tây Ban Nha vẫn đạt được những thành công hết sức rực rỡ bên ngoài lãnh thổ của họ. Fernando Sor là một minh chứng cho việc đó.
 
Dionisio Aguado (1784-1849) là một danh cầm nổi tiếng và cũng là một sáng tác gia. Ông đã viết cuốn Metodo para guitarra và đó là một trong những cuốn phương pháp dạy học guitar hay nhất của thế kỷ 19. Nó đã được dịch ra rất nhiều ngôn ngữ khác và tái bản một số lần. Ông còn đề xướng việc sử dụng chiếc kê chân khi ngồi chơi đàn.
 
Julian Arcas (1832-1882) là một danh cầm người Tây Ban Nha khác. Sau khi lưu diễn khắp Tây Ban Nha, ông tới Anh và biểu diễn ở Cung điện Hoàng gia Brighton Pavilion trước các thành viên trong gia đình Hoàng gia. Các bản nhạc ông chơi được tán dương nhiệt liệt. Sau đó, ông quay trở lại Tây Ban Nha, tiếp tục biểu diễn và trở thành giáo sư tại Nhạc viện Hoàng gia. Trong suốt cuộc đời của ông, đã có không dưới 80 tác phẩm được xuất bản.
 
Francisco Tarrega:
 
Điều chắc chắn rằng người có đóng góp quan trọng nhất trong giảng dạy và xây dựng phương pháp kỹ thuật guitar của Tây Ban Nha là Francisco Tarrega (1852-1909). Những tác phẩm của ông được xếp vào hàng ngũ những tác phẩm hay nhất vào giai đoạn cuối của thế kỷ 19.
 
Tarrega được truyền dạy guitar từ năm lên tám. Sau đó ông theo học piano và sáng tác tại Nhạc viện ở Madrid. Tại đây, ông vừa học vừa giảng dạy thêm cho con cái của những nhà quý tộc. Tarrega còn dạy tại Nhạc viện ở Barcelona và chuyển soạn hơn 100 tác phẩm của Bach, Handel, Mozart và Schubert. Thêm vào đó, ông còn sáng tác các bản prelude, waltz, các bài tập kỹ thuật cho guitar, nó biểu lộ sự phức tạp trong hòa âm và kỹ thuật cao trong phương pháp chơi guitar của ông. Thay đổi lớn nhất trong tư thế chơi đàn của ông, đó là bàn tay phải giờ đây đặt vuông góc với dây đàn thay vì để xiên như trước.
 
Tài năng của Tarrega đã được khẳng định hết sức rõ ràng và sự những cống hiến của ông đã thúc đẩy sự phát triển kỹ thuật trình tấu của guitar hiện đại. Nó góp phần đem lại một sức sống mới cho guitar, thứ nhạc cụ tưởng như đã bị suy tàn vào những giai đoạn trước. Nơi đây còn sản sinh ra những nhà soạn nhạc, những người đã khiến tiếng tăm đất nước Tây Ban Nha vang xa khắp thế giới: Isaac Albéniz (1860-1909), Enrique Granados (1967-1916) và Manuel de Falla (1876-1946). Albéniz trở thành nghệ sĩ piano đỉnh cao của thế kỷ này. Rất nhiều các tác phẩm ông viết được chuyển soạn sang cho guitar rất thành công, và người đóng góp không nhỏ trong công việc chuyển soạn đó chính là F.Tarrega.
 
Sau khi Tarrega mất vào năm 1909, những tác phẩm của ông sau này đã những môn đệ sưu tập, trong số đó có Emilio Pujol, Miguel Llobet, Daniel Fortea và Alberto Obregón.
 

 
Sánh ngang với những thành tựu mà Tarrega đã đạt được trong việc xây dựng cây đàn guitar, đó là người thợ làm đàn trứ danh Antonio Torres Jurado (1817-1892).
 
 
 
Ông nhấn mạnh tầm qua trọng của mặt trước thùng đàn trong việc phát ra âm thanh, và ông đã tăng cường các thanh trợ lực phía dưới của mặt trước thùng đàn nhằm làm tiếng đàn vang to hơn. Tuy nhiên, Pages (thợ làm đàn mà Sor và Aguado rất đề cao) đã sử dụng các thanh trợ lực từ những năm 1790. Panormo, một thợ làm đàn khác cũng đã sử dụng chúng trong những cây đàn Tây Ban Nha từ những năm 1820.
 
Antonio Torres sử dụng dây đàn có độ dài 650 mm, độ dài được sử dụng cho đến ngày hôm nay. Bên cạnh đó, những thợ làm đàn khác như Stauffer làm dây dài 647 mm, Lacote làm dài 650 mm…-phụ thuộc vào kích cỡ bàn tay của người chơi. Chiều dài dây đàn của Torres được gọi là “chuẩn” bởi mọi người đều phỏng theo nó khi làm đàn. Torres còn chuẩn hóa chiếc ngựa đàn bắt nguồn từ cây đàn thời Baroque, và nó trở thành chuẩn chung của toàn bộ những cây đàn Tây Ban Nha trong suốt thế kỷ 19.
 
Những người thợ làm đàn khác:
 
Fernando Sor đã đề cập đến một vài thợ làm đàn trong cuốn Menthod for the Spanish Guitar, bản dịch tiếng anh xuất bản bởi Tecla Editions:
 
“Ông J.Panormo đã làm một vài cây đàn guitar theo yêu cầu của tôi, nó tốt như cây đàn của Schroeder ở Petersburgh…Những cây đàn guitar của Naples thường dài hơn, và nếu tôi muốn một nhạc cụ, tôi sẽ đặt mua nó từ Joseph Martinez của Malaga, hoặc từ Lacôte, một thợ làm đàn người Pháp, người duy nhất có thể chứng minh cho tôi thấy chất lượng tuyệt với của cây đàn… Những cây đàn mà tôi thường xuyên đem theo là của Alonzo (Madrid), Pages và Benediz (Cadiz), Joseph và Manuel Martinez (Malaga), hoặc của Rada, và cả những cây đàn của Lacôte (Paris) nữa. Tôi không nói rằng ngoài những người kể trên không còn thợ làm đàn nào khác, nhưng họ không bao giờ bằng được, và tôi cũng không thể nói về những người thợ làm đàn và những cây đàn của họ mà tôi không biết đến”.
 
Trong thế kỷ 19, hầu như mỗi thợ làm đàn đều có tạo ra sự khác nhau trong hình dáng, kích cỡ và phong cách chế tạo cây đàn guitar. Torres đã khoét xung quanh lỗ thoát âm những rãnh tròn đồng tâm, và nhét những miếng gỗ rất nhỏ vào đó để trang trí. Kiểu cách trang trí này còn tồn tại tới ngày hôm nay. Tarrega lại thích âm thanh của cây đàn guitar do Arcas làm ra. Nó nhỏ hơn nhưng ấm áp hơn so với guitar hiện đại ngày nay.
 

 
Cây đàn guitar đã được biết tới tại nơi đây vào những buổi đầu của thế kỷ 16, khi mà người Tây Ban Nha di dân tới đây. Việc di cư của những nghệ sĩ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã làm cho nhạc cụ này ngày càng phổ biến, và ở Nam Mỹ, sự tích cực của họ không chỉ đẩy mạnh sự phát triển của guitar mà còn tạo nên những giai điệu đặc trưng ở mỗi đất nước nơi đây.
 
Kết quả của sự phát triển này là số lượng các guitarist cũng như những thợ làm đàn được biết tới ở Bắc và Nam Mỹ ngày càng tăng lên.
 
Sự nổi lên của guitar của guitar đã tạo nên một nhu cầu lớn về nhạc cụ này. Vào giai đoạn cuối thế kỷ 19, nhu cầu tăng đã làm xuất hiện những xưởng sản xuất bằng máy móc theo dây truyền bên cạnh những phương thức sản xuất thủ công truyền thống.
 
Theo một vài đánh giá, những sự kiện nổi bật của thế kỷ 19, đó là sự thay đổi của guitar, những cơ hội lưu diễn, sự phân bố rộng khắp của loại nhạc cụ này - có thế xem như điều tất yếu và là một phần có thể dự đoán được của quá trình phát triển. Những phương thức chế tạo lâu đời hoàn toàn bằng tay đã được thay thế bởi những máy móc hiện đại.

Rất nhiều sự thay đổi của thời kỳ này hứa hẹn sẽ đem tới một bộ mặt mới cho guitar của thế kỷ 20.

7. Thế kỷ 20:

Thế kỷ 20 tiếp tục như một minh chứng cho sự trỗi dậy như sóng cồn của cây đàn guitar trong sự thừa nhận nghiêm túc về nhạc cụ nghệ thuật này. Không thời điểm nào trong lịch sử cây đàn guitar lại được chào đón nồng nhiệt như vậy trong các buổi hòa nhạc ở khắp mọi nơi.
 
Có hai nguyên nhân cơ bản khiến cho guitar trở nên phổ biến ở khắp mọi nơi như ngày hôm nay. Nguyên nhân đầu tiên và hết sức hiển nhiên thuộc quyền sở hữu của thế kỷ 20. Đó là sự tiến bộ trong cuộc cách mạng kỹ thuật, sự phát triển của các phương tiện truyền thông và nhanh hơn nữa, những phương tiện giao thông tân tiến tạo nên một hiệu quả to lớn làm diện mạo của cây đàn guitar ngày càng nổi tiếng hơn. Radio, tivi, công nghệ thu âm, các vệ tinh nhân tạo, máy bay đã góp phần đẩy nhanh sự bao trùm rộng khắp của nhạc cụ này. Các nhà soạn nhạc giờ đây có thể tổ chức tour lưu diễn hòa nhạc trên khắp thế giới một cách dễ dàng. Họ có khả năng tạo dựng được một số lượng khán thính giả khổng lồ - không chỉ những người có mặt tại những buổi biểu diễn mà còn những người xem qua màn ảnh nhỏ, nghe qua đài phát thanh và những băng ghi âm, và còn hàng triệu người sử dụng internet nữa. Nhiều người hơn, bởi vậy, đã kéo theo sự tham gia của các nhà soạn nhạc, các nghệ sĩ biểu diễn cũng như những khán thính giả; rất nhiều cơ hội được tạo ra để khuấy động sự yêu thích guitar trong lòng công chúng. Nguyên nhân thứ hai, đó là sự mở rộng, kết quả tất yếu của sự phát triển của cây đàn guitar trong những thế kỷ trước.
 
Guitar được làm sống lại vào giai đoạn cuối của thế kỷ 19, những kỹ thuật của nó được tạo nên bởi Tarrega có một vị trí hết sức đặc biệt, sẵn sàng cho bước đi tiếp mà chúng ta biết đến như một kỹ thuật guitar hiện đại. Những thợ làm đàn vĩ đại, đáng chú ý nhất là Torres, đã phát triển nhạc cụ này với những trang trí không cầu kỳ, làm hình mẫu cho guitar cổ điển ngày nay.
 
Tarrega có rất nhiều học trò nổi tiếng nhưng Miguel Llobet (1878-1937) là học trò số một của ông. Llobet đã từng lưu diễn khắp Tây Ban Nha. Ông xuất hiện tại Paris, Anh, Mỹ, Nam Mỹ, Berlin, Vienna, và ngoài ra còn có những buổi biểu diễn ngắn tại hầu hết các nước phương Tây. Llobet được công nhận là nghệ sĩ bậc thầy của guitar.
 
Llobet có rất nhiều học trò nổi tiếng trong giới guitar ngày nay. Một vài trong số đó có Maria Luisa Anido (1907-) và José Rey de la Torre người Cuba.
 
Nghệ sĩ vĩ đại của thế kỷ 20 là Andres Segovia (1893-1987), bạn thân của Miguel Llobet. Segovia cảm thấy sự thôi thúc của bản thân trong việc phát triển những kỹ thuật của guitar. Ông đã đổi mới từ kỹ thuật của Tarrega, và một trong số đó là sự thay đổi đáng kể về bàn tay phải, đem lại sự tinh tế trong tiếng đàn. Hàng năm, trong hơn nửa thế kỷ, ông có những buổi lưu diễn trên khắp thế giới và có vô số những buổi phát thanh trên radio cũng như những buổi biểu diễn được trình chiếu trên tivi.
 
Sự lôi cuốn của guitar đối với Segovia đã đem đến những buổi biểu diễn vượt ra mọi sự tưởng tượng. Ông cũng chính là người đã tạo cảm hứng cho những nhà soạn nhạc đượng đại sáng tác cho nhạc cụ này. Mario Castelnuovo-Tedesco viết bản concerto đầu tiên cho guitar trong thế kỷ 20. Ngoài ra, Manuel Ponce (Mexico), Joaquin Rodrigo (Tây Ban Nha) và Alexander Tansman (Ba Lan) cũng đã viết những bản nhạc rất tuyệt vời cho guitar.
 
Segovia có một số lượng đông đảo các môn đệ. Alirio Diaz là học trò nổi tiếng của Segovia và đã trở thành một trong những nghệ sĩ guitar hàng đầu của thế giới, gặt hái được những thành công đặc biệt với âm nhạc Châu Mỹ-Latinh.
 
Một nghệ sĩ guitar Tây Ban Nha khác là Narciso Yepes (1927-1997), với cây đàn guitar 10 dây, cũng sở hữu những kỹ thuật tuyệt hảo. Ông tổ chức buổi hòa nhạc trước công chúng lần đầu vào năm 20 tuổi và đã trở thành guitarist nổi tiếng trên toàn thế giới. Ngoài ra cũng có những nghệ sĩ mang tầm vóc quốc tế đến từ những đất nước khác như Karl Scheit hay Konrad Ragossnig.
 
Hai nghệ sĩ nữa được rất nhiều người yêu thích, đó là Julian Bream (1933-) và John Williams (1941-). Nhiều người còn nói rằng, họ yêu thích hai nghệ sĩ đó hơn cả Segovia cũng như những học trò khác của ông.
 
Julian Bream
 
Julian Bream sinh vào ngày 15/07/1933 tại Battersea, Anh. Ở Royal College of Music, ông theo học piano, cello và sáng tác. Buổi diễn lần đầu của Bream ở London là tại Wigmore Hall vào năm 1951. Kể từ đó ông sống cuộc sống của một nghệ sĩ bận rộn và thành công, thời gian của ông được dành cho phòng thu và các buổi hòa nhạc. Các tác phẩm ông trình tấu rất đa dạng, phong phú và ông nổi tiếng không chỉ với guitar mà còn cả cây đàn lute nữa. Các tiết mục biểu diễn của ông trải dài từ những bản nhạc như Chaconne của Bach tới những tác phẩm của các nhạc sĩ đương đại. Ông có một vai trò hết sức to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của guitar hiện đại.
 
John Williams
 
Sinh ra tại Australia năm 1941, John Williams bắt đầu học nhạc từ cha của mình, người sáng lập ra Trung tâm đào tạo Tây Ban Cầm ở London. Năm 1952, ông được giới thiệu và sau đó làm học trò của Segovia. Theo lời khuyên của Segovia ông gia nhập Học viện Âm nhạc Chigiana tại Siena. Trở lại Anh, ông học piano và lý thuyết âm nhạc từ năm 1956 đến năm 1959. Lần trình diễn đầu tiên của Williams ở London là tại Wigmone Hall vào năm 1958, và không lâu trước khi tên tuổi của ông trở lên nổi tiếng ở Anh cũng như ở nước ngoài.
 
Ngày nay, John Williams là một trong những nghệ sĩ guitar cổ điển tài danh với kỹ thuật điêu luyện. Các tiết mục của ông phong phú và đa dạng từ những bài chuyển thể từ các bản nhạc dành cho lute thời kỳ đầu đến các tác phẩm của những nhà soạn nhạc Nam Mỹ và đương đại. Âm nhạc của ông dần có xu hướng phi cổ điển. Ông đã từng thử thể hiện nhạc Jazz trên nền các tác phẩm của Bach, Scarlatti, Villa-Lobos và Albéniz, thậm chí cả thể loại guitar điện và nhạc pop.
 
Song tấu guitar bắt đầu trở lên phổ biến bởi bộ đôi Alexandre Lagoya và Ida Presti, sau đó số lượng những người chơi song tấu với nhau ngày một tăng lên, cũng như các bản nhạc viết cho họ.
 
Eliot Fisk
 
Elist Fisk, sinh ra tại Philadelphia, ông đã dành được bằng thạc sĩ âm nhạc tại trường đại học Yale, nơi ông học cùng nghệ sĩ harpsichord Ralph Kirkpatrick. Ngay sau khi tốt nghiệp, ông được đề nghị đứng ra sáng lập khoa Guitar tại trường đại học Yale. Năm 1974 ông được giới thiệu tới gặp thần tượng của mình, Andres Segovia, người sau đó dạy riêng ông trong vài năm. Bên cạnh sự nghiệp trình diễn của mình, Eliot Fisk có một sự quan tâm sâu sắc tới việc dạy nhạc. Ông là giáo sư về guitar tại trường Mozarteum ở Salzburg (Áo), nơi tập trung rất nhiều nghệ sĩ guitar trẻ tài năng từ nhiều quốc gia khác nhau. Ông cũng quản lý rất nhiều các lớp đào tạo thạc sĩ và mở rất nhiều lớp ở khắp nơi trên thế giới. Là một người ưa mạo hiểm và làm việc không ngừng nghỉ, với trí tưởng tượng phong phú của mình, ông đã đem đến một hướng đi hoàn toàn mới trong trình diễn guitar cổ điển. Ông cũng sáng tác ra một khối lượng lớn các bản guitar cũng như chuyển soạn một số lượng lớn các tác phẩm của Bach, D.Scarlatti, Haydn, Mozart, Mendelssohn, Granados, Albéniz và các nhạc sĩ khác. Không chỉ là một nghệ sĩ độc tấu nổi tiếng, ông còn thường xuyên trình diễn trong các buổi nhạc hòa tấu.
 
Sự phát triển xa hơn nữa của cây đàn guitar:
 
Những thành tựu to lớn của các trường học guitar tại Tây Ban Nha được in dấu với những cây đàn của Santos, Hernandez và José Ramirez de Calaretta. Một thợ làm đàn khác người Đức cũng nổi lên ở thế kỷ này là Hermann Hauser. Những chiếc đàn của ông ngày nay được rất nhiều các guitarist sử dụng trong các buổi hòa nhạc.
 
Kiểu dáng của cây đàn guitar trong quá khứ luôn giành được sự tôn trọng, và ngày nay qua những lần chỉnh sửa, cây đàn guitar ngày càng hoàn thiện. Dây nylon đã được thay thế cho dây làm bằng ruột thú trước đây. Đó được coi như một cuộc cách mạng của cây đàn guitar. Dây đàn được làm bằng chất liệu mới này khỏe hơn, không bị xuống dây thường xuyên và có một âm thanh thật tuyệt vời, điều mà đã được tìm kiếm bấy lâu nay.
 
Ngày nay, guitar đã được quốc tế hóa. Cây đàn được truyền dạy trên khắp thế giới. Sau Thế chiến II, guitar trở nên phổ biến ở Nhật Bản và đất nước này đã sản sinh ra số lượng rất lớn các guitarist, các giảng viên guitar cũng như những thợ làm đàn.
 
Những tờ báo quốc tế về guitar đã được in ra và được phát hành trên khắp thế giới: Tạp chí The Classical Guitar, xuất bản tại Anh, và tờ The Guitar Review, xuất bản tại NewYork, có số lượng phát hành lớn trên thế giới và cũng được đăng trên internet.
 
Sự phát triển của xã hội, các mối liên kết và các tổ chức đã tạo điều kiện cho những hoạt động tích cực của guitar vươn xa hơn nữa. Nó như một bằng chứng về sự yêu thích của mọi người với nhạc cụ này. Ngày nay đã có rất nhiều những buổi biểu diễn độc tấu được tổ chức cho các nghệ sĩ trẻ, khuyến khích các sinh viên cống hiến bản thân như một sự truyền bá thích hợp cho guitar. Số lượng những buổi biểu diễn guitar được nhân lên với những cuộc đua tranh trong chính bản thân mỗi nước cũng như những cuộc đua tranh mang tầm cỡ quốc tế.
 

Tuấn Việt (nhaccodien.info) tổng hợp


View: 18160  -  Nguồn: nhaccodien.info  -  Cập nhật lần cuối: 10:09 07/12/2010  -  Quay lại
© Trang thông tin âm nhạc cổ điển do Bút nhóm nhaccodien.info xây dựng.
® Ghi rõ nguồn "nhaccodien.info" khi phát hành lại thông tin từ website này.                                Thiết kế: Lê Long - Code: Kal Kally