Ballade No. 4 giọng Fa thứ Op. 52

 

"Ballade" (cần phân biệt với thuật ngữ "ballad") là một kiểu thơ và ca khúc Pháp thời Trung cổ và Phục hưng, thường có lời đề cập đến những thiên diễm tình. "Ballade" là một trong ba hình thức ổn định (cùng với rondeau và thể thơ điệp khúc hai vần - virelai) chiếm lĩnh nền ca khúc và thi đàn Pháp trong các thế kỉ 14 và 15. Theo khuôn mẫu chuẩn mực cuối thời Trung cổ, lời của "ballade" được chia làm ba khổ thơ có chung cách sắp xếp vần luật và nhịp điệu và kết thúc bằng một đoạn điệp.
 
Đến thế kỉ 19 dưới bàn tay của Chopin, ballade mới trở thành một tác phẩm âm nhạc độc lập. Chopin sáng tác bốn bản ballade cho đàn piano, trải dài trong mười năm từ lúc rời Ba Lan đến sinh sống tại Paris.

Có người bảo rằng các bản ballade của Chopin là phổ nhạc cho các bài thơ của nhà thơ người Ba Lan Adam Mickiewicz. Ngay cả nhà phê bình âm nhạc, nhạc sĩ Schumann lúc đầu còn lầm tưởng các bản ballade của Chopin cũng mang tính chất kể chuyện như nhạc của chính Schumann sáng tác.
 
Nhưng thật sự Chopin không bao giờ có cảm hứng với loại âm nhạc có tiêu đề, cốt truyện và nhân vật như Schumann. Chopin đã từng không chấp nhận các bản nhạc trong bộ Carnival Op.9 của Schumann là một loại âm nhạc với đúng nghĩa của nó. Cũng như quan niệm riêng về tính chất lãng mạn trong âm nhạc của Chopin khác với các nhà soạn nhạc đương thời, tính chất kể chuyện trong các bản ballade của Chopin không tuân theo một khuôn mẫu nào mà ẩn trong từng câu nhạc đầy sáng tạo và phóng túng.
 
Mặc dù Chopin lấy cảm hứng sáng tác ballade từ các câu chuyện của quê hương Ba Lan và các bài thơ của Adam Mickiewicz, Chopin mong muốn người nghe tự cảm nhận ra câu chuyện của riêng mình thông qua âm nhạc của ông. Chính vì thế mà không nhất thiết phải tìm hiểu các bài thơ này để có thể cảm nhận được các bản ballade của Chopin.
 
Bốn bản ballade của Chopin là các tác phẩm lớn, với độ dài mỗi bản từ 8 đến 12 phút, được viết ở nhịp 6/4 hay 6/8, cùng mang chất thơ và thể hiện các chủ đề tương phản nhau, trữ tình nhưng cũng mang đầy kịch tính. Mặc dù bốn bản ballade có những điểm tương đồng, mỗi bản là một sự sáng tạo riêng biệt mà Chopin thổi hồn cho nhiều thể loại cổ điển từ sonata, rondo đến các khúc biến tấu rất uyển chuyển với cách chuyển âm và cấu trúc chưa từng gặp trong các ballade của các nhạc sĩ trước đó.
 
Ballade của Chopin là sự kết hợp giữa cổ điển và lãng mạn, đạt tiêu chuẩn hàn lâm, được đánh giá là những tác phẩm tiêu biểu nhất của Chopin nói riêng và của âm nhạc thời kỳ lãng mạn nửa đầu thế kỷ 19 nói chung. Sau Chopin, một số nhạc sĩ khác như Liszt hay Brahms cũng sáng tác ballade cho piano, nhưng nhắc đến ballade mọi người đều nhớ đến Chopin trước tiên, bởi ông là người đi tiên phong trong thể loại này.

Ballade No. 4 Op.52 giọng Fa thứ được đánh giá nổi bật nhất trong bốn bản ballade và giá trị có thể sánh ngang như Mona Lisa trong hội họa. Bản ballade này thể hiện hầu hết tất cả các yếu tố có thể có trong âm nhạc và tư tưởng của con người chỉ bằng cây đàn piano.
 
Chopin sáng tác Ballade No. 4 vào khoảng những năm 1842-43, đề tặng cho phu nhân nam tước Rothschild, người trước đây đã giới thiệu Chopin chơi piano tại biệt thự của gia đình bà trước giới thượng lưu Paris.
 
Bản ballade mở đầu với khúc dẫn nhập ở giọng Đô trưởng tươi sáng nhưng ngắn ngủi, nhạt dần để nhường chỗ chủ đề chính giọng Fa thứ. Giai điệu chính nhẹ nhàng nhưng bí hiểm và ẩn chứa một nỗi buồn man mác, con người dường như đi tìm lại chính tâm hồn của mình. Giai điệu mang tính chất Slav này được lặp lại và hòa vào trong khoảng không yên bình của những quãng tám sau đó. Cảm giác lâng lâng này biến mất khi một lời tự sự cất lên, như giải bày những uẩn khúc trong chủ đề chính. Có thể nói đây là một trong những khúc nhạc hay nhất, phức tạp nhất về kỹ thuật hòa âm với sự chuyển giọng liên tục trong mỗi khuông nhạc.
 
Những uẩn khúc đó dường như vẫn chưa được sáng tỏ khi nốt Son giáng được lặp lại ba lần và dừng hẳn trước khi trở về với chủ đề chính. Chủ đề chính được bổ sung thêm một bè phụ, trở nên sôi động hơn, chuyển thành kịch tính với những quãng tám mạnh mẽ, và cuối cùng nhạt dần để chuyển qua chủ đề thứ hai ở giọng Si giáng trưởng.
 
Chủ đề thứ hai mang dáng dấp của những giây phút yên ả thanh bình sau cơn giông bão trong Ballade No. 2 Op.38. Sau đoạn phát triển ở giọng La giáng trưởng liên tục với những quãng sáu, phần dẫn nhập được lặp lại nhưng ở giọng La trưởng và với một khoảnh khắc nhẹ nhàng nghiêng từ Mi sang Mi thăng.
 
Một khúc biến tấu của giai điệu chính ở những tông nhạc khác thường, tuy nhẹ nhàng nhưng căng thẳng, lang thang vô định trước khi bắt kịp với sự trở về của chủ đề chính quen thuộc. Ở lần thứ tư này, chủ đề chính được biến tấu với những câu nhạc dài hơn, nhanh hơn, dồn dập hơn.
 
Chủ đề thứ hai được lặp lại ở giọng Rê giáng trưởng tạo ra một không gian rộng lớn hơn với phần trầm là những ngọn sóng cuồn cuộn và phát triển thành cao trào bởi bốn khúc rải qua ba quãng tám tương tự như bản Etude "Đại dương" số 12 Op.25. Hàng loạt những hợp âm mạnh mẽ trở nên im bặt nhường chỗ cho bốn hợp âm bí hiểm biến thể sang giọng Đô trưởng.
 
Khúc coda mạnh mẽ, dữ dội và náo động với những quãng ba và quãng sáu gợi lên hình ảnh những kỵ mã chạy vào rừng sâu, một trong những lý do khiến nhiều người ghép bản ballade này với bài thơ Budri của Adam Mickiewicz, bài thơ kể về một người chiến binh đưa ba người con ra trận. Những khúc hợp âm rải dâng lên đến cao trào, cuồn cuộn như thác đổ xuống nốt trầm Fa mạnh mẽ, xóa tan mọi hoài nghi, uẩn khúc xuyên suốt tác phẩm.
 
Có thể nói, cách kể chuyện không lời, truyện mà như không truyện của Chopin thể hiện trong bản ballade cuối cùng này đã đưa thể loại ballade cho đàn piano ra khỏi chức năng âm nhạc cho thơ thuần túy vốn có trước đây, trở thành một thể loại độc lập, đứng vững trên danh sách các thể loại hàn lâm trong lịch sử âm nhạc.

Trần Lương Anh (nhaccodien.info)

View: 3300  -  Nguồn: nhaccodien.info  -  Cập nhật lần cuối: 03:21 02/05/2010  -  Quay lại
Bài mới cập nhật


© Trang thông tin âm nhạc cổ điển do Bút nhóm nhaccodien.info xây dựng.
® Ghi rõ nguồn "nhaccodien.info" khi phát hành lại thông tin từ website này.                                Thiết kế: Lê Long - Code: Kal Kally