Giao hưởng No. 1 giọng Rê trưởng

 

Tác giả: Gustav Mahler
Thời gian sáng tác: 1888-1894
Công diễn lần đầu: ngày 20/11/1889 tại Budapest do tác giả chỉ huy (phiên bản 1) và năm 1896 ở Berlin (phiên bản cuối).
Độ dài: phiên bản cuối khoảng 55 phút
Tổng phổ: tổng phổ phiên bản cuối cùng dành cho dàn nhạc lớn điển hình lên tới gần 100 nhạc cụ.
 
Tác phẩm gồm 4 chương:
I - Langsam, Schleppend. Wie ein Naturlaut (Chậm, ngân dài, giống âm thanh của tự nhiên) nhịp 4/4, Rê thứ. Immer sehr gemächlich (rất giản dị từ đầu đến cuối), nhịp 2/2, Rê trưởng.
II - Kräftig bewegt, doch nicht zu schnell (hoạt bát và sống động, nhưng không quá nhanh) Recht gemächlich (giản dị), a Trio.
III - Feierlich und gemessen, ohne zu schleppen (trang trọng và đều đặn, không lê thê), Sehr einfach und schlicht wie eine Volksweise (rất giản dị, giống như một điệu dân ca), Wieder etwas bewegter, wie im Anfang (mạnh mẽ hơn, như ở phần khởi đầu) – một hành khúc tang lễ dựa trên bài hát thiếu nhi "Frère Jacques" (hay "Bruder Martin")
IV - Stürmisch bewegt- Energisch (nhanh, mãnh liệt)
 
 Năm 1884 tập ca khúc Lieder eines fahrenden Gesellen (Những khúc ca lữ khách) là kết quả của sự mê đắm một ca sĩ soprano tại Nhà hát Kassel khi Mahler làm Kapellmeister (chỉ huy dàn nhạc) ở đây. Tập ca khúc cho giọng hát và dàn nhạc này đã được trù định từ trước vì ông lưu giữ cẩn thận trong đống giấy tờ trong gần 12 năm.
 
 Trong lúc ấy sự thất vọng của một mối tình khác – mục tiêu mà ông say mê lần này đã lập gia đình và là mẹ của bốn đứa bé – một lần nữa gây cảm hứng sáng tạo: “Những cảm xúc này đã chạm đến mức cảm xúc mãnh liệt trong tôi mà nó bất ngờ vỡ tung trong một dòng chảy mãnh liệt”. Đó là vào năm 1888 khi Mahler mới 27 tuổi đã là nhạc trưởng tại Leipzig Theatre. Người phụ nữ được nhắc đến không ai khác là vợ của cháu trai Weber, vợ của một người đã cung cấp cho Mahler một kho vô tận những bản phác thảo các opera hài hước của ông mình, Karl Maria vĩ đại. Bằng việc hoàn thành “Die drei Pintos”, Mahler đạt được thành công đáng chú ý đầu tiên trong sự nghiệp soạn nhạc. Tình cảm nồng nàn dành cho Marion von Weber cứ thế làm ông dấn sâu vào nỗi tuyệt vọng, vì ông không bao giờ có thể quên rằng mối quan hệ với bà là phản bội lại sự hào phóng của chồng bà đã dành cho ông. Vào đầu năm 1888, Leipzig Opera đóng cửa – nước Đức để tang cho hoàng đế Willhelm I – và trong vài ngày ngắn ngủi Mahler có thể hiến dâng hết mình cho việc sáng tác mà không bị quấy rầy. Bản thơ giao hưởng của ông, sau này được gọi là bản giao hưởng số 1, hoàn thành vào tháng 3. Nó gồm 5 chương vì Mahler đã thêm vào một đoạn Andante ngắn mượn từ phần đầu của một bản nhạc sân khấu.
 
 Tháng 3 năm 1888 Mahler báo tin cho một người bạn: “Tác phẩm của tôi đã viết xong!... Thật lạ lùng – tựa như từ trong tôi trào ra dòng nước ở trên núi! Giống như tất cả các cửa của đập nước được mở toang do một sự va chạm mạnh!” Đó là tác giả nói về bản giao hưởng số 1. Nhạc sĩ kể lại rằng ông muốn thể hiện trong bản giao hưởng này cái anh hùng, cái đầy sức sống của con người, cuộc sống của con người, những nỗi đau khổ, cuộc đấu tranh của con người. Quả nhiên, âm nhạc bản giao hưởng vẽ lên rõ “nhân vật” ấy. Trong chương 1, nhân vật – trên ngưỡng cửa cuộc đời – ngây thơ, chất phác, cả tin. Nhiệt huyết tuổi trẻ, lạc quan yêu đời – đó là những nét nổi bật của nhân vật. Trong khoảnh khắc bỗng nảy sinh những hoài nghi ban đầu: “Có thật thế giới tuyệt diệu như thế không?”.(*) Chương II tả cảnh sinh hoạt phong tục, như trình bày giai đoạn tiếp theo của sự tiếp xúc của nhân vật với thế giới xung quanh: từ thiên nhiên đến con người. Trong chương III xuất hiện hình tượng tương phản rõ rệt với hình tượng trước: xảy ra va chạm với thế giới thật sự, tàn nhẫn, đã tháo bỏ cái mặt nạ giả dối. Chính nhạc sĩ cũng xác định chương này thấm sâu “sự mỉa mai đau đớn, bi ai... Đó là tiếng kêu của một tâm hồn trống trải đang mang vết thương sâu thẳm”. Cảnh tượng khủng khiếp dẫn đến chương cuối đầy kịch tính gay gắt.
 
Những lần biểu diễn đầu tiên:
 Mahler sau này thừa nhận: “Tôi hoàn toàn không có ý thức rằng tôi đã viết một trong những tác phẩm táo bạo nhất của mình. Tôi tưởng tượng một cách ngây thơ rằng nó đơn giản như trẻ con, rằng nó sẽ làm hài lòng ngay lập tức và tôi sẽ có thể sống thoải mái vào số tiền nhuận bút sẽ được trả”. Quá nhiều ảo tưởng của một nhạc sĩ trẻ! Mùa hè sau đó ông chạy đi chạy lại giữa thiên đường và địa ngục để tác phẩm mình được biểu diễn – tại Prague, Munich, Dresden và Leipzig – nhưng đều vô ích. Cuối cùng ông đành phải tự mình chỉ huy buổi biểu diễn đầu tiên tại Budapest Philharmonic vào ngày 20 tháng 11 năm 1889. Sự dữ dội của chương cuối để lại cho khán giả sự sửng sốt, và sau những hợp âm kết thúc là một sự im lặng đáng sợ, cuối cùng bị phá vỡ bởi những tiếng vỗ tay rải rác với lời la ó. Mahler hiểu rằng ông vừa đang giảng đạo giữa sa mạc. Thậm chí những người bạn thân nhất nhất của ông cũng bị mất tinh thần: “Về sau tất cả mọi người chống lại tôi, không ai dám nói với tôi về tác phẩm này”. Những nhà phê bình cũng mang thái độ căm ghét như công chúng. Cô đơn và tuyệt vọng, Mahler lang thang đi xuyên qua những con phố của thủ đô Hungary “như một kẻ mang bệnh truyền nhiễm, một kẻ vô gia cư”.
 
 Năm 1891, Mahler rời Budapest đến Hamburg để giữ vị trí nhạc trưởng chính tại Stadttheater, một trong những nhà hát quan trọng ở Đức. Vào một buổi chiều tháng 10 năm 1893, tại một trong những nhà hát Hamburg, ông chỉ huy “Hòa nhạc quần chúng trong phong cách Philharmonic” gồm toàn những tác phẩm trình diễn lần đầu của ông, một trong những số đó có tên “Titan: thơ âm nhạc trong hình thức giao hưởng”. Sự phản ứng của thính giả còn ít thiện chí hơn tại Budapest, còn giới phê bình Hamburg một lần nữa kết tội Mahler hoàn toàn thiếu sự sáng suốt trong việc lựa chọn chất liệu, “xúc phạm ghê gớm đến cảm nhận cái đẹp”.
 
 Sau ba lần thất bại tại Weimar, Mahler thử một lần nữa vào năm 1896 tại Berlin. Tác phẩm này từ đó về sau này bị cắt đi đoạn Andante và cuối cùng mang tựa đề “Giao hưởng số 1”. Cứ mỗi hai hay ba năm cho đến lúc cuối đời Mahler đã chỉ huy bản “số 1” xấu số này, mà hầu như nó luôn gây thất vọng cho khán giả thậm chí sau khi họ đã trở nên quen với phong cách và ngôn ngữ của ông. Vết nhơ của “Sinfonia ironica” (Sự mở đầu mỉa mai – thuật ngữ được nhà phê bình thành Vienna Max Kalbeck nghĩ ra) treo trên nó một thời gian dài sau khi Mahler chết. Trong suốt những năm 1920 và 1930 nó rất được quần chúng ưa thích, nhưng điều này phần lớn vì nó có sự cân đối khiêm nhường vừa phải và nó yêu cầu một dàn nhạc nhỏ hơn khi so sánh với những bản giao hưởng khác của ông.
 
Chương I. Langsam, Schleppend. Wie ein Naturlaut (Chậm, ngân dài, giống âm thanh của tự nhiên) nhịp 4/4, Rê thứ. Nhạc sĩ đã thành công trong việc gợi lên chất thơ với những điều đơn giản có sức lôi cuốn bằng sự tỉnh giấc của thiên nhiên: tiếng chim hót, tiếng tù và đi săn và tiếng kèn lệnh đằng xa. Bản giao hưởng bắt đầu bằng phần mở đầu chậm rãi. Âm La kéo dài ở tất cả các khoảng âm của dàn nhạc (âm bội của dàn dây), trên nền ấy xuất hiện những nhạc tố (motif) riêng rẽ: tiếng gọi của núi rừng, tiếng chim ríu rít, những hiệu kèn, giai điệu gợi cảm của kèn horn. Chúng ta gần như nhìn thấy một Mahler trẻ trung ở đây, khi ông miêu tả bản thân – một đứa trẻ, say sưa vô tận trong những giấc mơ, một mình, bất động, nằm giữa khu rừng, trong say mê, lắng nghe những âm thanh mỏng manh từ gần đến xa. Dòng nhạc êm ả đi nhanh dần đến phần sonata allegro.
 
 Immer sehr gemächlich (rất giản dị từ đầu đến cuối), nhịp 2/2, Rê trưởng. Phần trình bày – lied “Ging heut Morgen übers Feld” (Tôi qua cánh đồng sáng nay) trong tập Lieder eines fahrenden Gesellen (Những khúc ca lữ khách) mà nhạc sĩ sáng tác lời hát, trong sáng, tươi vui. Trong phần phát triển không khí có thay đổi – xuất hiện những âm điệu lo lắng, báo trước chương cuối, những phần nhắc lại – lặp lại bài hát – màn kết hân hoan – vui mừng.
 
 Giữa phần phát triển và trình bày của chương một có nhiều điệp khúc khác nhau của phần giới thiệu với nhiều kiểu biến tấu khác nhau như phong cách thường thấy của Mahler.
 
Chương II. Kräftig bewegt, doch nicht zu schnell (hoạt bát và sống động, nhưng không quá nhanh) Recht gemächlich (giản dị), a Trio. Khúc Scherzo tả cảnh sinh hoạt. Âm nhạc mang rõ tính chất dân gian, nhưng bây giờ không phải là khúc hát, mà là điệu nhảy landler. Các phần ngoài cùng của chương – nhảy múa tập thể, hơi thô, với sức lôi cuốn tự nhiên của nhịp điệu. Phần giữa (trio) – cũng là điệu nhảy landler, nhưng ý đồ hoàn toàn khác – uyển chuyển, duyên dáng đáng yêu.
 
 Không hồ nghi gì đây là đoạn nhạc quê mùa, chất phác nhất trong tất cả những Scherzo của Mahler trong hình thức Ländler, nhưng nó cũng là một trong những chương vui tươi nhất. Một vài nhạc tố bắt nguồn từ lied Hans und Grethe mà Mahler sáng tác khi 20 tuổi. Trong phần Trio (Recht gemächlich. Etwas langsamer – giản dị, hơi chậm hơn) Fa trưởng, điệu nhảy trở nên duyên dáng hơn; cái bóng của Bruckner có thể thấy thoáng qua ở đây.
 
Chương III. “hành khúc tang lễ trong phong cách trang nghiêm”. Âm nhạc tạo nên rõ ấn tượng của một bức tranh dân gian, trong đó mô tả những súc vật đi chôn người thợ săn. Đám rước buồn thảm, bước đi chậm chạp, nhưng tất cả cái đó chỉ là sự trá hình, giả dối… Đoạn đầu nghe rất “nghiêm túc”: tiếng trống đều đặn, nhịp nhàng, trên nền ấy nổi lên chủ đề hành khúc tang lễ (biến thể điệu thứ của khúc hát canon hài hước "Frère Jacques"). Nhưng kìa, giống như những ý nghĩ thầm kín bỗng bộc lộ ra, xuất hiện những nhạc tố Digan biểu cảm một cách cường điệu, ngắt lời nhau, chồng chất lên nhau… Đoạn giữa – buồn rầu, trầm tư, lại một đoạn trích dẫn – nửa cuối của Lieder eines fahrenden Gesellen (Những khúc ca lữ khách)
 
Chương IV - tiếp liền chương trước không gián đoạn. Những âm điệu nảy sinh trong phần phát triển của chương I ở đây mang tính chất quả cảm cương nghị - nhân vật của bản giao hưởng có những nét mới. Trong toàn bộ chương cuối, sự phát triển kịch tính ráo riết chiếm ưu thế, và chỉ tạm bị ngắt quãng khi xuất hiện giai điệu đáng yêu, quyến rũ, cảm động, chân thành (chủ đề hai), như tượng trưng cho lý tưởng trong sáng mà cuộc đấu tranh quyết liệt đang diễn ra chính vì lý tưởng ấy. Phần Coda của bản giao hưởng – một hành khúc vui mừng, màn kết trọng thể ngợi ca chiến thắng của nhân vật giành được trong cuộc đấu tranh khốc liệt ấy.
 
(*) chú thích: Về sau, Mahler viết về bản giao hưởng số 2 (Sự hồi sinh): “Tôi gọi chương 1 là “Ngày giỗ” tôi chôn vùi chính nhân vật trong bản giao hưởng Rê trưởng của tôi, mà cuộc đời của nó nay tôi đã phải chiêm vọng từ trên cao... Chương ấy – cả một vấn đề lớn: Tại sao mày sống? Tại sao mày đau khổ? Phải chăng tất cả điều đó – chỉ là trò đùa lớn và khủng khiếp?”
 
Hoàng Việt (nhaccodien.info) tổng hợp

View: 3883  -  Nguồn: nhaccodien.info  -  Cập nhật lần cuối: 10:31 26/05/2010  -  Quay lại
Bài mới cập nhật


© Trang thông tin âm nhạc cổ điển do Bút nhóm nhaccodien.info xây dựng.
® Ghi rõ nguồn "nhaccodien.info" khi phát hành lại thông tin từ website này.                                Thiết kế: Lê Long - Code: Kal Kally