Die Forelle (Con cá hồi), D.550
 
 Lied (số nhiều: Lieder) là một từ tiếng Đức với nghĩa đen là "bài ca". Tuy nhiên trong âm nhạc cổ điển, nó là thuật ngữ chỉ thể loại ca khúc nghệ thuật gắn liền với âm giọng thực tế của ngôn ngữ Đức soạn cho ca sĩ solo cùng piano. Và đề cập đến thể loại lied, ta không thể không nhắc đến nhà soạn nhạc Áo Franz Schubert (1797-1828) - người được mệnh danh là “Vua lied”.
 
 Schubert sáng tác lied rất nhanh và nhiều. Gần 800 bài thơ, của cả các đại thi hào lẫn những tác giả vô danh, đã một lần nữa thăng hoa qua lied của Schubert. Nhưng cái chính là ông đã đưa thể loại này đến độ chín muồi về mặt nghệ thuật hơn bất cứ một nhà soạn nhạc nào khác. Ở các lied của Schubert, ta thấy rõ một sự cân xứng giữa phần lời và phần nhạc. Ông đã tạo ra một sức cuốn hút mới mẻ cho lời thơ qua những cách tân trong lối phổ thơ và qua những thủ pháp biểu đạt độc đáo bằng âm nhạc.
 
 Một số lied của Schubert được sắp xếp theo những chuỗi hay liên khúc thuật lại một câu chuyện, một cuộc phiêu lưu của tâm hồn hơn là thể xác, như các tập liên khúc Die schöne Müllerin (Cô thợ xay xinh đẹp) D.795 gồm 20 bài và Winterreise (Hành trình mùa đông) D.911 gồm 24 bài. Một số lied của Schubert lại giống như những màn kịch ngắn trong đó hình tượng âm nhạc cho từng nhân vật được ông sáng tạo rất sinh động như “Erlkönig” (Chúa rừng) D.328 phổ thơ Goethe hay “Der Tod und das Mädchen”(Thần Chết và trinh nữ) D.531 phổ thơ Matthius Claudius.
 
 “Die Forelle” (Con cá hồi)D.550 là một trong số những lied nổi tiếng nhất và được biểu diễn nhiều nhất của Schubert. Lied này được viết năm 1817, năm Schubert 20 tuổi. Trước đó, Schubert đã viết được hơn 100 lied cũng như nhiều tác phẩm giao hưởng, opera, nhạc thính phòng…
 
Die Forelle
Thơ: Christian Daniel Schubart
 
In einem Bächlein helle,
Da schoß in froher Eil
Die [launige]1 Forelle
Vorüber wie ein Pfeil.
Ich stand an dem Gestade
Und sah in süßer Ruh
Des muntern [Fisches]2 Bade
Im klaren Bächlein zu.
 
Ein Fischer mit der Rute
Wohl an dem Ufer stand,
Und sah's mit kaltem Blute,
Wie sich das Fischlein wand.
So lang dem Wasser Helle,
So dacht ich, nicht gebricht,
So fängt er die Forelle
Mit seiner Angel nicht.
 
Doch [plötzlich]3 ward dem Diebe
Die Zeit zu lang. Er macht
Das Bächlein tückisch trübe,
Und eh ich es gedacht,
So zuckte seine Rute,
Das Fischlein zappelt dran,
[Und ich mit regem Blute
Sah die Betrogene an.]4
 
Die ihr am goldenen Quelle
Der sicheren Jugend weilt,
Denkt doch an die Forelle,
Seht ihr Gefahr, so eilt!
Meist fehlt ihr nur aus Mangel
der Klugheit, Mädchen, seht
Verführer mit der Angel!
Sonst blutet ihr zu spät!
Con cá hồi
dịch thơ: na9
 
Trong dòng suối trong veo
Con cá hồi lấp lánh
Lao đi như tên bắn,
Mau lẹ và sướng vui.
Ngồi trên bờ là tôi
Ngắm nhìn vô tư tự
Con cá hồi sống động
Trong dòng suối trong ngần.
 
Ngư ông với chiếc cần
Đứng trên bờ suối đó
Bằng con mắt lạnh giá
Nhìn cá lội tung tăng.
Tôi đã nghĩ ngư ông
Không thể nào bắt được
Cá kia bằng lưỡi câu,
Khi nước còn trong vắt.
 
Nhưng rốt cuộc phát chán
Vì phải chờ đợi lâu
Ngư ông bèn láu lỉnh
Khuấy cho nước đục ngầu.
Khi tôi chưa kịp hiểu
Đột ngột dây rung lên
Tôi thấy ở lưỡi câu
Cá quẫy mình vấy máu.
 
Bạn ở nguồn nước vàng,
Trẻ trung không ngờ vực,
Trông gương con cá hồi
Thấy hiểm nguy, hãy tránh!
Thường vì thiếu tinh anh
Người trẻ hay mắc bẫy.
Cảnh giác với mồi câu
Không máu rơi, quá trễ!
 
 Chẳng rõ Schubert đọc được bài thơ “Die Forelle” của nhà thơ Đức Christian Daniel Schubart (1739-1791) từ khi nào. Chắc hẳn ông rất hứng thú với bài thơ này nên mặc dù chính tác giả của bài thơ đã phổ nhạc cho nó nhưng Schubert vẫn viết không dưới 5 phiên bản lied “Die Forelle”.
 
 “Die Forelle” là một màn kịch hấp dẫn, phản ánh đề tài thiên nhiên của thời kỳ Lãng mạn và cảm tưởng của Schubert về sự khôi hài. Nguyên gốc bài thơ của Schubart gồm 4 khổ. Schubert đã sử dụng ba khổ thơ đầu và loại đi khổ thơ thứ tư có nội dung cảnh báo các cô gái trẻ phải cảnh giác trước các “ngư ông” với mồi câu. Con cá và ngư ông trong bài thơ gốc của Schubart là những nhân vật mang tính biểu tượng. Còn trong lied của Schubert, người kể chuyện miêu tả cảnh một con cá hồi bơi lội tung tăng trong dòng suối và sự phẫn nộ của mình khi thấy ngư ông bắt được cá bằng cách thức bất minh.
 
 Câu nhạc gồm 6 nốt nổi tiếng hình thành phần lớn bè đệm piano với âm hình nhấp nhô vui vẻ gợi lên hình tượng một con cá đang bơi. Còn giai điệu mang lời ca tươi sáng nhẹ nhàng cho đến lúc ngư ông khuấy bùn làm đục nước để bắt cá. Khi đó cả giọng hát và phần piano chuyển sang tông trầm hơn, tạo nên cảm tưởng một màn kịch nhỏ đang diễn ra.
 
 Die Forelle thật dễ dàng làm thính giả say mê. Hai năm sau khi viết lied nổi tiếng này, Schubert đã lấy nó làm cơ sở để sáng tác Trout Quintet (Ngũ tấu Cá hồi) D.667 - một tác phẩm hòa tấu thính phòng khiến thính giả còn say mê hơn thế.
 
Chú thích: Khi phổ nhạc, Schubert có đổi một số từ trong bài thơ gốc của Schubart
1 Schubert: "launische"
2 Schubert: "Fischleins"
3 Schubert: "endlich"
4 or "Ich sah mit regem Blute / das arme Fischlein an" (Blood boiling, I watched the poor little fish)
 
 Ngọc Anh (nhaccodien.info) 

View: 5882  -  Nguồn: nhaccodien.info  -  Cập nhật lần cuối: 09:06 18/10/2011  -  Quay lại
Bài mới cập nhật


© Trang thông tin âm nhạc cổ điển do Bút nhóm nhaccodien.info xây dựng.
® Ghi rõ nguồn "nhaccodien.info" khi phát hành lại thông tin từ website này.                                Thiết kế: Lê Long - Code: Kal Kally