Salome, TrV. 215
 
Âm nhạc: Richard Strauss
Libretto: Ricchard Strauss (dựa theo bản dịch tiếng Đức của Hedwig Lachmann từ vở kịch Pháp Salomé của Oscar Wilde)
Công diễn lần đầu: ngày 9 tháng 12 năm 1905 tại Hofoper ở Dresden
 
Nhân vật: Loại giọng
Herod: Tenor
Herodias: Mezzo-soprano
Jochanaan: Baritone
Narraboth: Tenor
 
Tóm tắt nội dung
 
Judea, năm 30 sau công nguyên. Từ một sân thượng ngập tràn ánh trăng trong cung điện của vua Herod, Narraboth, đội trưởng đội cận vệ chăm chú say mê ngắm nhìn công chúa Salome, người đang dự tiệc cùng cha dượng và triều thần. Giọng nói của nhà tiên tri Jochanaan vang lên từ một bể chứa sâu, nơi ông bị nhà vua cầm tù do khiếp sợ ông. Salome chán ngán vì sự phóng đãng của vua Herod và những vị khách lỗ mãng của ông ta nên đã chạy ra ngoài để hít thở khí trời và trở nên tò mò khi cô nghe thấy Jochanaan nguyền rủa Herodias, mẹ cô. Khi những người lính từ chối mang Jochanaan đến cho cô gặp, Salome quay mưu chước sang Narraboth, người đã ra lệnh triệu Jochanaan đến. Salome bị mê hoặc bởi vẻ xanh xao chết chóc của nhà tiên tri và để tuôn trào khao khát không thể kiểm soát được của mình là được chạm vào ông. Nhà tiên tri cự tuyệt cô, nói về Con Trai của Đức Chúa, người sẽ đến để cứu nhân loại. Khi Salome tiếp tục cầu xin một nụ hôn của Jochanaan, Narraboth tự đâm mình trong khiếp đảm và nhà tiên tri đi xuống bể chứa, thuyết phục cô tìm kiếm sự cứu rỗi linh hồn từ Đấng cứu thế. Cô gái sụp xuống trong thất vọng và ham muốn mãnh liệt.
 
 Herod xuất hiện, triều thần theo sau. Khi ông trượt ngã trong vũng máu của Narraboth, ông trở nên mất nhuệ khí và bị ảo giác, điều mà Herodias khinh miệt. Suy nghĩ của Herod chuyển sang Salome, người đã khước từ những quan tâm của ông. Lời xỉ và tiếp tục từ giọng nói dưới đất của Jochanaan quấy rầy Herodias, người yêu cầu Herod trả nhà tiên tri về cho những người Do Thái. Sự từ chối của Herod gây ra tranh cãi giữa một số người Do Thái quan tâm đến bản chất của Đức Chúa và một câu chuyện về những phép mầu của Chúa Cứu Thế được hai người xứ Nazarene kể lại.
 
 Herod cầu xin Salome làm ông vui bằng cách nhảy múa và sẽ tặng cô bất cứ thứ gì cô muốn để đáp lại. Salome bắt ông thề sẽ thực hiện lời hứa rồi nhảy múa, chậm rãi trút bỏ bẩy tấm mạng che và kết thúc bài biểu diễn ngay dưới chân ông. Salome đòi có được cái đầu của Jochanaan trên một chiếc đĩa bạc, không đếm xỉa đến những vật thay thế ghê gớm khác : đồ trang sức, chim hiếm, khăn choàng thiêng. Vị vua khiếp hãi cuối cùng cũng phải đầu hàng. Sau một lúc chờ đợi căng thẳng, cánh tay của tên đao phủ nhô lên từ bể chứa, dâng cái đầu lên cho Salome. Khi mây che khuất trăng, Salome say đắm chộp lấy phần thưởng, hướng vào Jochanaan như thể ông vẫn sống và hôn lên môi ông một cách đắc thắng. Kiệt sức vì khiếp đảm, Herod ra lệnh cho lính giết Salome.
 
Trích đoạn nổi bật: “Vũ điệu bảy lớp mạng che”
 
Vở opera một màn Salome của nhà soạn nhạc Đức Richard Strauss (1864 - 1949) được công diễn lần đầu vào ngày 9 tháng 12 năm 1905 tại Dresden. Ngay lập tức, tác phẩm này đã làm dấy lên một cuộc luận chiến rộng rãi.
 
Những thính giả ưa phiêu lưu thì tán dương Salomevì thấy trong âm nhạc của nó các dấu hiệu mang tính tiên phong. Năm 1948, Arnold Schoenberg đã rút ra nhiều trích đoạn từ Salome để làm hình mẫu cho điệu tính mở rộng.
 
Còn các nhà phê bình bảo thủ thì chỉ trích nội dung suy đồi của Salome, vốn được dựa theo vở kịch cùng tên của Oscar Wilde. Siegfried Wagner, con trai của Richard Wagner, đã xếp Salomevào trong số “các tác phẩm nguy hiểm” của R. Strauss. Và “Vũ điệu của Salome” đầy cám dỗ chắc chắn là một trong những cảnh tai tiếng hơn cả trong vở opera luôn gây choáng váng này.
 
Salome, con gái của hoàng hậu Herodias, được Kinh Tân ước đề cập đến vì có liên quan đến cái chết của thánh John the Baptist. Truyền thống Cơ đốc giáo và nghệ thuật phương Tây miêu tả Salome như một biểu tượng của sự cám dỗ nữ tính cực kỳ nguy hiểm.
 
Trong vở opera Salome, Salome bị mê hoặc bởi vẻ xanh xao chết chóc của nhà tiên tri Jochanaan (tức thánh John the Baptist, người từ hầm giam đã nguyền rủa cuộc hôn phối loạn luân của Herodias và vua Herod) và để tuôn trào khao khát không thể kiểm soát được của mình là được chạm vào ông. Nhà tiên tri cự tuyệt cô, nói về Con Trai của Đức Chúa, người sẽ đến để cứu nhân loại.
 
Salome tiếp tục cầu xin một nụ hôn của Jochanaan nhưng nhà tiên tri bỏ xuống hầm giam sau khi bảo cô hãy tìm kiếm sự cứu rỗi linh hồn từ Đấng cứu thế. Salome sụp xuống trong thất vọng và ham muốn mãnh liệt.
 
Khi vua Herod, cha dượng của Salome, đề nghị Salome nhảy múa giúp vui trong buổi tiệc sinh nhật mình và thề sẽ tặng cô bất cứ thứ gì cô muốn để đáp lại, Salome chấp thuận. “Vũ điệu của Salome” hay còn gọi là “Vũ điệu bảy lớp mạng che” diễn ra ngay sau đó, Salome từ từ trút bỏ 7 lớp mạng che thân và kết thúc vũ điệu ngay dưới chân vua Herod.
 
Salome khăng khăng đòi tặng thưởng là cái đầu của Jochanaan đặt trên một chiếc đĩa bạc. Cô không thèm đếm xỉa đến những vật thay thế giá trị khác mà vua Herod đề nghị như đồ trang sức, chim chóc quý hiếm, khăn choàng thiêng. Vị vua khiếp hãi cuối cùng cũng phải đầu hàng.
 
Sau một lúc chờ đợi căng thẳng, cánh tay đao phủ nhô lên từ hầm giam, dâng cái đầu Jochanaan lên cho Salome. Khi mây che khuất trăng, Salome say đắm chộp lấy phần thưởng, hướng vào Jochanaan như thể ông vẫn sống và hôn lên môi ông một cách đắc thắng. Kiệt sức vì khiếp đảm trước hành vi bệnh hoạn của Salome, Herod ra lệnh cho lính giết cô.
 
Không có gì đáng ngạc nhiên khi vào thời điểm đầu thế kỉ 20, nhà hát Metropolitan Opera tại New York đã buộc phải ngưng diễn Salome ngay sau đêm mở màn vì bị công chúng la ló dữ dội. Trước đó, trong buổi công diễn Salomelần đầu tại Dresden, Marie Wittich, ca sĩ đầu tiên sắm vai Salome, không chịu thực hiện cảnh diễn tai tiếng “Vũ điệu bảy lớp mạng che”: “Tôi sẽ không diễn đâu. Tôi là một phụ nữ đứng đắn.” Và trong những năm tiếp theo, ở cảnh này người ta thường cho một nữ diễn viên ballet ra múa thay ca sĩ soprano sắm vai Salome.
 
“Vũ điệu bẩy lớp mạng che”bắt đầu một cách cuồng loạn, âm nhạc được đẩy tới bằng những tiếng trống và tambourine dồn dập đầy âu lo, căng thẳng. Nhưng nhịp độ nhanh chóng chậm lại và tiếp theo là một nhịp valse mang vẻ nham hiểm.
 
Điệu nhạc có tính ngoại lai với dàn dây và tambourine mau chóng tham gia vào để truyền đạt tính chất mờ ảo và cám dỗ. Dần dần âm nhạc trở nên náo nhiệt hơn, nhục cảm hơn và suy đồi hơn. Tất cả quằn quại trong một vẻ điêu tàn đầy màu sắc, trong cảm giác quay cuồng tuyệt diệu của lễ hội. Âm nhạc lại chuyển sang điên cuồng cực độ và rồi trùng xuống trong chốc lát trước cái kết lừng chừng đầy mầu sắc.
 
Trong Salome, R. Strauss đã sử dụng kỹ thuật hoà âm nghịch tai, điều mà ông tận dụng triệt để trong vở opera tiếp theo của mình là Elektra. Nhận xét về ngôn ngữ hoà âm của hai vở, ông nói: “Cả hai vở opera này đều độc đáo trong số các tác phẩm của tôi. Trong chúng, tôi đã thấu tới những giới hạn tối đa của hoà âm.”
 
Ngoài việc đem lại cho tác giả số tiền đủ xây một biệt thự lớn tại Garmisch, giá trị âm nhạc củaSalome còn được khẳng định qua sức sống của vở đến tận ngày nay.
 
Ngọc Anh (nhaccodien.info) tổng hợp

View: 3956  -  Nguồn: nhaccodien.info  -  Cập nhật lần cuối: 05:49 18/07/2010  -  Quay lại
Bài mới cập nhật


© Trang thông tin âm nhạc cổ điển do Bút nhóm nhaccodien.info xây dựng.
® Ghi rõ nguồn "nhaccodien.info" khi phát hành lại thông tin từ website này.                                Thiết kế: Lê Long - Code: Kal Kally