Le Sacre du Printemps (Lễ bái Xuân)

 

Tác giả : Igor Stravinsky
Thời gian sáng tác : 1912 -1913
Công diễn lần đầu : ngày29/5/1913 tại nhà hát Opera Paris 
Tác phẩm gồm hai phần :
 
Phần I: Sự tôn thờ trái đất
1.      Khúc mở đầu. Lento
2.      Điệu nhảy của các trinh nữ
3.      Cuộc bắt cóc giả mạo
4.      Điệu nhảy vòng tròn mùa xuân
5.      Trò chơi chiến tranh giữa các bộ lạc
6.      Đám rước nhà thông thái
7.      Sự sùng bái trái đất
8.      Điệu nhảy của Trái đất
 
Phần II:  Sự hy sinh
1.      Khúc mở đầu. Largo
2.      Điệu nhảy thần bí của các trinh nữ
3.      Sự ca ngợi trinh nữ được chọn tế thần
4.      Hồi tưởng tổ tiên
5.      Nghi lễ …
6.      Điệu nhảy hy sinh.
 
 Trong sự nghiệp âm nhạc của Stravinsky, “Lễ bái Xuân” được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu và rực rỡ nhất, thể hiện rõ nét phong cách âm nhạc độc đáo của nhà soạn nhạc Nga này. Không còn nghi ngờ gì nữa, “Lễ bái Xuân” còn được xem là một trong số những tác phẩm vĩ đại của thế kỷ 20 với những nét cách tân, đột phá táo bạo và vẻ đẹp nguyên sơ của văn hoá dân tộc Nga. Chính những ấn tượng mạnh mẽ mà “Lễ bái Xuân” đem lại cho người nghe ngay từ những nốt nhạc đầu tiên đã báo hiệu một số phận đầy bão tố của tác phẩm. Và thực tế đã chứng minh điều đó hoàn toàn có cơ sở…
 
Con đường đau khổ
 
 Năm 1921, sau khi từ Paris trở về Nga, bá tước nhà văn Aleksey Nikolayevich Tolstoy đã viết bộ tiểu thuyết đồ sộ “Con đường đau khổ” về sự nhận đường đầy nhọc nhằn của những người trí thức Nga với cách mạng. Chưa thấy có tài liệu nào đề cập đến mối quan hệ giữa Aleksey Tolstoy và Igor Stravinsky nhưng có một điều thú vị là nhiều tác phẩm của nhà nhà soạn nhạc, trong đó có “Lễ bái Xuân”, đã phải trải qua một cuộc hành trình cũng nhọc nhằn không kém để được công nhận là một kiệt tác của âm nhạc thế kỷ 20.
 
 Trước khi viết “Lễ bái Xuân” Igor Stravinsky đã được giới phê bình âm nhạc và công chúng biết đến như một nghệ sỹ tài năng, học trò của Rimsky-Korsakov. Cá tính mạnh mẽ và tinh thần hướng tới sự đột phá trong sáng tạo đã khiến Stravinsky nổi danh với những lời phát biểu khá ngạo mạn, ví dụ như khi nói về các sáng tác của Antonio Vivaldi: “tôi không thể viết một bản concerto tới 600 lần”. Tuy nhiên, ai cũng phải công nhận sức sáng tạo mãnh liệt của Stravinsky qua tác phẩm mang nhiều màu sắc phương Đông  “Chim lửa”, được trình diễn lần đầu tiên ở nhà hát Opera Paris vào ngày 25/6/1910.
 
 Stravinsky đã kể lại: “Ý tưởng của sáng tác “Lễ bái Xuân” đến ngay trong lúc tôi còn đang sáng tác dở “Chim lửa”. Tôi đã từng ôm mộng về một tác phẩm lấy cảm hứng từ lễ hiến tế mùa xuân, một nghi thức đa thần giáo nước Nga. Trong buổi lễ thiêng liêng này, cô gái đồng trinh được chọn tế thần sẽ nhảy múa đến chết. Ý tưởng này sẽ không chỉ thực hiện bằng mỗi thứ nguyên liệu âm nhạc…”.
 
 Buổi ra mắt vở ballet “Lễ bái Xuân” vào ngày 29/5/1913 cũng tại nhà hát Opera Paris. Chương trình buổi diễn gồm hai phần, phần đầu là tác phẩm “Les Sylphides”, một vở ballet được Stravinsky sáng tác trên cảm hứng từ những bản nhạc viết cho piano của Chopin. Cũng phải nói thêm rằng, hầu hết các tác phẩm của Stravinsky đều nhận được sự hỗ trợ và đơn đặt hàng của Serge Diaghilev, giám đốc đoàn ballet Russe. Chính “Les Sylphides” là kết quả của sự kết hợp đầu tiên giữa hai con người yêu âm nhạc này, và là bước đi đầu tiên của một tình bạn tri kỷ kéo dài hơn 20 năm, cho đến khi Diaghilev qua đời. Lẽ dĩ nhiên, “Les Sylphides” đã nhận được sự tán thưởng của công chúng bởi khán giả Paris hài lòng với sự tinh tế và hài hòa về giai điệu. Còn bộ ba Stravinsky, Diaghilev và nhà biên đạo múa Vaslav Nijinsky thì hồi hộp chờ đợi đến phần hai bởi “Lễ bái Xuân” không đi theo phong cách thông thường của một vở ballet cổ điển, trái ngược hẳn với “Les Sylphides”…
 
 Ngay khi những âm thanh đầu tiên vang lên, nhà soạn nhạc Pháp Camille Saint – Saens đã đùng đùng bỏ ra về vì không chịu nổi thứ âm thanh kỳ dị này. Những khán giả Paris còn lại kiên nhẫn hơn nhà soạn nhạc danh tiếng nhưng cũng ngay bộc lộ phản ứng khi thấy trên sân khấu là tác phẩm nghệ thuật nào đó không phải về mùa xuân như họ tưởng. Những tiếng la hét, huýt sáo la ó vang lên trong thính phòng. Đám đông gầm gừ tức giận và cảnh sát Paris đã phải nhập cuộc. Nijinsky và Stravinsky cảm thấy nản lòng nhưng chính Diaghilev lại bình luận rằng “tôi mong muốn vở diễn được chú ý như vậy”. Và quả thật, hôm sau trên các mặt báo, rất nhiều bài báo mổ xẻ với nhiều ý kiến đối lập về “Lễ bái Xuân”. Dù buổi ra mắt không hề may mắn nhưng cuối cùng, giá trị đích thực đã được công nhận. “Lễ bái Xuân” đã có mặt trong hàng ngũ những tác phẩm xuất sắc nhất thế kỷ 20 và thường xuyên có trong danh mục biểu diễn của nhiều buổi hòa nhạc lớn.
 
Cuộc cách tân lớn về âm nhạc
 
 Để có được tác phẩm “Lễ bái Xuân”, Stravinsky đã phải lao tâm khổ tứ hơn hai năm. Tuy đã sẵn ý tưởng soạn một tác phẩm về tục hiến tế mùa xuân của đa thần giáo Nga nhưng Stravinsky không thể thực hiện được điều này nếu thiếu vắng sự trợ giúp của nhà khảo cổ học và nghiên cứu văn hóa dân gian Nikolai Roerich. Đây cũng là một nhân vật đặc biệt, từng học vẽ tại Học viện nghệ thuật St. Petersburg nhưng lại ngả theo thuyết thần bí Tây Tạng và sau này cùng với vợ mình sáng lập ra thuyết Agni Yoga. Roerich đã từng cho ra mắt cuốn “Niềm vui trong nghệ thuật” được các nhà phê phê bình đánh giá là “khúc phóng túng trữ tình của chủ nghĩa đồ đá mới”. Stravinsky gặp Roerich khi ông đang giúp Diaghilev thiết kế sân khấu vở “Công tước Igor” của Borodin vào năm 1909. Giữa hai người nảy sinh sự tương đồng về ý tưởng và phong cách dàn dựng “Lễ bái Xuân”. Khi đề cập đến tác phẩm của mình, Stravinsky đã từng nói “Nhà thông thái ngồi trong vòng tròn và nhìn theo cô gái được chọn hiến tế cho vị thần Mùa xuân đang nhảy múa đến chết để cầu mưa thuận gió hòa”.
 
 Âm nhạc của Stravinsky trong “Lễ bái Xuân” luôn chứa chất sự phiêu lưu và sáng tạo độc đáo. Việc sử dụng những âm thanh nghịch tai đã đem lại màu sắc khác thường và một nguồn sinh lực mới mẻ cho tác phẩm. Thông qua phần giai điệu chính như dân ca, “Lễ bái Xuân” đem lại sự hồi tưởng về thời kỳ cổ xưa của trái đất. Chủ đề của tác phẩm đã được Stravinsky lấy từ tuyển tập các bài hát dân ca Lithuanian do Juskiewicz sưu tầm. Tiếng solo của bassoon theo điệu dân ca Lithuanian đã ngay lập tức giới thiệu về buổi lễ hiến tế. Khúc nhạc mở màn này đã đột ngột đưa khán giả đến với giai điệu của “Điệu nhảy của các trinh nữ”. Phần hai của tác phẩm được viết theo phong cách trường phái ấn tượng với chương mở đầu từ tốn, chậm rãi nhưng cũng bất ngờ đem đến sự căng thẳng được dồn nén ở những chương sau. Đặc biệt, chương cuối cùng đưa đến một bức chân dung âm nhạc về sự ám ảnh bị hủy diệt con người từ nguồn sức mạnh nguyên thủy. Đây cũng là đề tài của các nhà văn hiện thực thế kỷ 20. Nhưng cùng giống như âm nhạc của Stravinsky, các tác phẩm văn chương này cũng chứa đầy sự căng thẳng và sự dang dở. Sự thay đổi mạnh mẽ về phong cách âm nhạc của Stravinsky thực sự là ánh xạ của sự thay đổi đến chóng mặt của xã hội trong thời đại của ông.
 
 Âm nhạc Stravinsky mang đầy tính phiêu lưu về mặt hòa âm, nó tập trung vào sự hòa âm nghịch tai để khai thác khả năng biểu đạt về màu sắc của âm nhạc. Về mặt nhịp điệu, nó khá hoang dã, tự phát, với nhiều thay đổi bất ngờ về nhịp và trọng âm. Stravinsky đã xây dựng hệ thống nhịp điệu trong “Lễ bái Xuân” một cách bất đối xứng, đó là một hệ thống đa âm, đa nhịp điệu, chịu ảnh hưởng của “chủ nghĩa nguyên thủy”, với những mảnh giai điệu đan xen trong một mạng lưới tương tác phức tạp. Theo các nhà âm nhạc học, chính sự giao nhau giữa các nhân tố “âm nguyên” (diatonic) phi đối xứng cố hữu và những nhân tố phi âm nguyên đối xứng cố hữu đã hình thành nên nguyên tắc của ngôn ngữ âm nhạc trong “Lễ bái Xuân”. Ở đây, chủ nghĩa âm nguyên (diatonism) của nó không nên được hiểu theo ý nghĩa hạn hẹp của hệ thống trưởng/thứ, mà cần được hiểu theo một cái gì đó căn bản hơn. Cái đơn giản hơn đó có thể được gọi là những “chu kỳ quãng” (interval cycle). Ngoại trừ quãng 5, tất cả các quãng từ 1 đến 6 sẽ phân chia một quãng 8 ra thành các đoạn bằng nhau. “Lễ bái Xuân” chứa đựng một điều gì đó khá giống với tác phẩm số 33 mang tên Bài ca Ngày mùa trong bộ tác phẩm 44 khúc Song tấu Violin của Béla Bartok, chúng đều là sản phẩm của việc đặt cạnh nhau những diễn đạt điệu thức và phi điệu thức.
 
 Một trong những lý do làm nên giá trị của “Lễ bái Xuân” là tác phẩm này đã trở thành chủ đề  quan trọng cho sự thảo luận và phân tích của các nhà lý thuyết âm nhạc. Allen Forte, Pierre Boulez và Van Den Toorn đã phân tích cấu trúc tác phẩm theo các mối quan hệ trừu tượng của nhịp điệu và cao độ, dẫn đến một cách hiểu hiện đại về ngôn ngữ âm nhạc.  Mặt khác, một nghiên cứu kinh điển của Richard Taruskin về âm nhạc thời kỳ đầu của Stravinsky đã giải thích đặc trưng âm nhạc của ông về căn bản là bắt nguồn trực tiếp từ âm nhạc dân gian Nga.
 
 Năm 1929, “Lễ bái Xuân” được ghi âm lần đầu tiên dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Pierre Monteux. Lúc sinh thời, chính Stravinsky cũng đã chỉ huy tác phẩm này và bản thân ông chỉ thực sự hài lòng với sự dàn dựng của nhạc trưởng Leonard Bernstein. Sau khi được nghe bản ghi âm năm 1958 của Leonard Bernstein, Stravinsky đã chỉ có thể thốt lên đầy thán phục “Tuyệt vời!” nhưng với bản ghi âm lần đầu tiên vào năm 1964 của Herbert von Karajan, Stravinsky chế giễu “quá ư tao nhã” và còn bình luận thêm “Tôi nghi ngờ vào lễ tế thần theo phong cách truyền thống của Karajan”. Năm 1940, “Lễ bái Xuân” đã càng trở nên nổi tiếng khi được hãng Walt Disney đưa vào “Fantasia”, một bộ phim hoạt hình có sử dụng nhạc cổ điển là nhạc nền. Chính “Fantasia” đã góp phần giới thiệu nhạc cổ điển tới mọi người và thậm chí cả định hướng nghề nghiệp. Chính nhạc trưởng nổi tiếng Simon Rattle đã biết đến “Lễ bái Xuân” qua bộ phim này và đó đã trở thành gợi ý lớn lao cho ông khi lựa chọn con đường âm nhạc.
 
Nhịp điệu
 
Một trong những đặc điểm của âm nhạc là có rất nhiều điều chờ đợi trong từng bản nhạc, nhưng điều gì chờ đợi thì ít ai đoán biết được. Trong điệu nhảy cuối cùng, điệu nhảy của sự hy sinh, giữa cái mãnh liệt và thô tháp không đối xứng, dàn nhạc bất ngờ im lặng. Khán giả hồi hộp chờ đợi vào điều bất ngờ nào đó sẽ đến. Và bất kỳ lúc nào người ta cũng chờ đợi giai điệu ấy: một, hai, ba theo nhịp đũa của nhạc trưởng. Không một điều nào đem lại sự thanh thản cho người nghe bởi bất cứ lúc nào người ta cũng cảm thấy như trái đất đang sụp đổ dưới chân mình. Ở trang cuối cùng, Stravinsky đã để cho toàn thể dàn nhạc cũng như từng nhạc công chơi càng mạnh mẽ và điều hấp dẫn là khán giả cảm thấy một làn sóng trào dâng bủa vây họ khi cô gái gục xuống sàn diễn. Một tiếng sáo sắc nhọn bay vút lên không trung và khán giả cảm thấy như một tòa nhà chọc trời bị đổ sụp. Tác phẩm đã kết thúc còn âm nhạc thì không bao giờ có thể lặp lại. Có thể sau một khúc prelude sẽ là một cuộc chiến tranh thế giới. Đó chính là những điều Stravinsky đã viết về thế kỷ 20 cho chúng ta.
 
Ý kiến của nhạc trưởng Simon Rattle
 
 Có ý kiến cho rằng, chính thứ âm nhạc sự lập dị, huyền bí và tuyệt diệu này chỉ có thể có ở đâu đó trên thiên đường và Stravinky đã mang xuống cho chúng ta. Tôi luôn luôn cảm thấy sức mạnh ấy. Điều tôi cảm nhận sau cùng là không biết ông đã viết tác phẩm đó như thế nào. Ông ấy hiểu tới tận cùng thứ âm thanh mà ông ấy muốn tạo nên. Trong điệu nhảy cuối cùng, khi cô gái nhảy múa đến chết, có tên gọi là “Chúa xuân”, Straivinsky viết không có thêm một vạch nhịp nào. Ông chỉ viết các nốt nhưng không ghi rõ các nốt được liên kết như thế nào. Trên thực tế, ở phương Tây, giai điệu thường bị chệch khỏi khuôn. Không ai đạt được đến đẳng cấp ấy cả. Và thậm chí sau đó 50 đến 60 năm sau, tác phẩm này vẫn là sự thách thức lớn cho bất kỳ dàn nhạc nào.
 
Thật tuyệt vời là chúng tôi có thể trình tấu tác phẩm này, và bây giờ chúng tôi thực sự chơi tất cả những điều Stravinsky đã viết và tưởng tượng. Tôi có thể tưởng tượng ra cảnh Stravinsky quay trở lại và tuyên bố rằng “Ôi, Chúa ơi, lẽ ra tôi phải viết nặng nề hơn nữa! Bởi vì tác phẩm muốn phá vỡ tất cả, thậm chí cả mọi quan niệm trong  âm nhạc. Điều đó lý giải vì sao tôi gặp phải nhiều vấn đề khi bắt tay vào thực hiện vở ballet này. Những vũ công với thân hình tuyệt diệu đã múa  như thể họ chỉ nặng có ba kg nhưng lại không đem lại cho người xem sự liên tưởng đến điều nào khác. 
 
Một trong những ý tưởng quan trọng để xây dựng tác phẩm này xuất phát từ nhà biên đạo múa Nijinsky, ông đã chọn diễn viên chính cho vai cô gái đồng trinh được lựa chọn cho lễ hiến tế. Tại quá nửa phần đầu của kịch bản múa, cô gái đồng trinh hoàn toàn đứng yên đến phần kết thúc. Trong vòng 15 phút, cô gái không hề cử động trong khi những cô gái khác chạy vòng quanh. Cuối cùng, người đóng vai chính lại là người đem lại sự căng thẳng đáng ngạc nhiên. Một trong những điều người ta học được từ đó là chính sự tĩnh lặng mới là điều căng thẳng nhất.
 
Điều đó bao hàm nhiều ẩn ý về thế giới tự nhiên, nó chứa đựng bao điều dữ dội. Không ai cảm thấy thanh thản khi thưởng thức xong tác phẩm này. Tôi tin chắc là cũng không ai cảm thấy thanh thản khi xem những điệu vũ. Hãy thưởng thức tác phẩm để cảm nhận được sự sắc nhọn bằng chính cảm giác của mình. Và tôi cho rằng những người yêu âm nhạc trẻ tuổi sẽ là người có khả năng cảm nhận được tốt nhất tác phẩm và sẽ trình diễn lại “The rite of spring”.
 
Thanh Nhàn (nhaccodien.info) tổng hợp

View: 3470  -  Nguồn: nhaccodien.info  -  Cập nhật lần cuối: 03:43 05/08/2010  -  Quay lại
Bài mới cập nhật


© Trang thông tin âm nhạc cổ điển do Bút nhóm nhaccodien.info xây dựng.
® Ghi rõ nguồn "nhaccodien.info" khi phát hành lại thông tin từ website này.                                Thiết kế: Lê Long - Code: Kal Kally