Nhạc viện


Hãng thu âm


Nhà hát và phòng hòa nhạc


Cuộc thi và liên hoan âm nhạc


Nghệ nhân và hãng làm đàn


Nhóm nhạc hòa tấu


Dàn nhạc và hợp xướng

Philadelphia Orchestra

Dàn nhạc Philadelphia Orchestra có trụ sở tại Philadelphia, Pennsylvania được coi là một trong năm dàn nhạc giao hưởng lớn nhất (Big Five) tại Mĩ (cùng với New York Philharmonic, Boston Symphony Orchestra, Chicago Symphony Orchestra và Cleveland Orchestra) và là một trong những dàn nhạc xuất sắc nhất trên thế giới. Kể từ năm 2001 đến nay, dàn nhạc thường xuyên tổ chức các buổi hòa nhạc tại Kimmel Center for the Performing Arts, Verizon Hall gần Academy of Music (nhà hát opera cổ nhất nước Mĩ) - ngôi nhà đã gắn bó với họ từ những ngày đầu, cách đây đã hơn 1 thế kỉ.
 
Dàn nhạc được thành lập vào năm 1900, với mục đích ban đầu là quyên góp tiền cho phụ nữ và trẻ em mồ cồi trong cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Tây Ban Nha. Sau đó, chính quyền thành phố Philadelphia đã đồng ý cho thành lập một dàn nhạc giao hưởng tại thành phố này. Trải qua suốt chiều dài lịch sử hơn 100 năm của mình, có tất cả 7 nhạc trưởng nắm giữ cương vị giám đốc âm nhạc của Philadelphia Orchestra. Người đầu tiên nắm giữ cương vị này là nhạc trưởng người Đức Fritz Scheel và ông đã chỉ huy đêm diễn đầu tiên của dàn nhạc vào ngày 16 tháng 11 năm 1900 tại Academy of Music. Ông nắm giữ cương vị này đến năm 1907 khi ông qua đời. Trong những ngày đầu non trẻ của dàn nhạc, với tài năng của mình, Scheel đã dần đần nâng cao được uy tín của Philadelphia Orchestra đồng thời ông cũng mời những nhạc sĩ, nghệ sĩ tài năng cộng tác cùng dàn nhạc. Những điểm đáng chú ý nhất trong nhiệm kì của Scheel là: dàn nhạc xuất hiện lần đầu tiên tại Carnegie Hall vào năm 1902; năm 1904, Richard Strauss được mời chỉ huy cùng Philadelphia Orchestra trong một đêm diễn gồm toàn những tác phẩm của chính nhạc sĩ, chương trình có sự tham gia của soprano Pauline - vợ của Richard Strauss; nghệ sĩ piano trẻ tuổi người Ba Lan Artur Rubinstein đã lần đầu ra mắt khán giả Mĩ trong đêm biểu diễn cùng Philadelphia Orchestra vào năm 1906, mở đầu cho sự cộng tác kéo dài trong suốt 7 thập kỉ; cũng trong năm này, Fritz Scheel cùng Philadelphia Orchestra có buổi biểu diễn đặc biệt tại Nhà Trắng cho tổng thống Mĩ Theodore Roosevelt cùng gia đình.
 
Sau khi Scheel mất vào năm 1907, thay thế ông là Carl Pohlig, một nhạc trưởng người Đức khác. Vị giám đốc âm nhạc thứ 2 của Philadelphia Orchestra này đã từng là trợ lí của nhạc sĩ người Áo Gustav Mahler. Và trước khi về với Philadelphia Orchestra, Pohlig đã rất nổi tiếng trước đó khi vào năm 1901 tại Stuggart, Đức, ông đã trở thành nhạc trưởng đầu tiên trên thế giới chỉ huy bản giao hưởng số 6 giọng La trưởng, WAB 106 của nhà soạn nhạc người Áo Anton Bruckner đúng theo tổng phố gốc của Bruckner (trước đó tác phẩm này chỉ được biểu diễn theo bản chỉnh sửa của Mahler). Trong thời gian chỉ huy Philadelphia Orchestra, đóng góp lớn nhất của Pohlig là đã mời nhà soạn nhạc, nghệ sĩ piano vĩ đại Sergei Rachmaninov chỉ huy và biểu diễn cùng dàn nhạc trong lần ra mắt đầu tiên của Rachmaninov trên đất Mĩ vào năm 1909, mở ra một sự cộng tác lâu dài và chặt chẽ suốt những năm sau đó. Tuy nhiên sau 5 năm làm việc cùng dàn nhạc, Carl Pohlig đã xin từ chức trong sự hổ thẹn vì mối quan hệ vụng trộm của ông với cô thứ kí người Thụy Điển bị phát giác. Người lên thay Pohlig và trở thành nhạc trưởng thứ 3 của Philadelphia Orchestra là Leopold Stokowski (1882 - 1977).
 
Nhạc trưởng người Mĩ Leopold Stokowski sinh ra tại Anh trong một gia đình có bố là người Ba Lan và mẹ là người Ireland. Bên cạnh công việc chỉ huy dàn nhạc, ông còn được biết đến với tư cách một nghệ sĩ chơi đàn organ và nhạc sĩ phối khí tài ba. Rất nhiều những tác phẩm dành cho organ độc tấu của Johann Sebastian Bach đã được Stokowski phối lại cho dàn nhạc. Ngày 11 tháng 10 năm 1912, Stokowski đã có buổi chỉ huy đầu tiên cùng Philadelphia Orchestra. Và kể từ đây, danh tiếng của dàn nhạc cùng với vị chỉ huy đáng kính của mình ngày một lan rộng. Stokowski đã mang đến cho Philadelphia Orchestra một sắc thái âm nhạc hoàn toàn mới (được gọi là Philadelphia sound) với nền tảng là sự hoa mĩ, cường độ và khắt khe trong từng câu nhạc. Là người có nhiều sáng kiến, Stokowki đã thay đổi chỗ ngồi của dàn nhạc, ông bố trí bè contrebass ra phía cuối sân khấu, đưa bè violin sang bên trái và bè cello sang bên phải bục chỉ huy. Chính ông là người đầu tiên đề xuất với ban giám đốc dàn nhạc về việc chỉ thuê những nhạc công giỏi nhất và tạo ra không khí cạnh tranh và thách thức giữa các thành viên trong dàn nhạc. Năm 1916, Stokowski và Philadelphia Orchestra đã tạo nên một cột mốc trong lịch sử âm nhạc nước Mĩ khi lần đầu tiên cho ra mắt khán giả Mĩ bản giao hưởng số 8 giọng Mi giáng trưởng (“Symphony of a Thousand”) của Mahler. Năm 1917, Philadelphia Orchestra có bản thu âm đầu tiên của mình, bản thu này được hãng Victor Talking Machine, Camden, New Jersey ghi âm trên đĩa than tốc độ 78 (đây cũng là bản thu âm đầu tiên của Stokowski). Năm 1921, Stokowski và dàn nhạc đã cùng nhau thực hiện những buổi hòa nhạc phục vụ cho trẻ em lứa tuổi dưới 13. Chính từ những buổi hòa nhạc này mà đến năm 1933, đã hình hành những cuộc thi âm nhạc hàng năm dành cho sinh viên. Trong những năm sau đó, rất nhiều thí sinh chiến thắng trong các cuộc thi này đã trở thành những nghệ sỹ tên tuổi như soprano Judith Blegen, mezzo–soprano Florence Quivar, pianist André Watts, violinist Nadja Salerno–Sonnenberg và violist Jaime Laredo cũng như rất nhiều các nhạc công trong nhiều dàn nhạc nổi tiếng. Năm 1925, Philadelphia Orchestra trở thành dàn nhạc đầu tiên trên thế giới thu âm bằng băng điện. Năm 1929, Philadelphia Orchestra là dàn nhạc đầu tiên tự mình tài trợ cho buổi trình diễn trên sóng phát thanh toàn quốc của đài phát thanh NBC. Năm 1930, một số thành viên của Philadelphia Orchestra tham gia vào các buổi hòa nhạc mùa hè ngoài trời tại thung lũng Robin Hood, một khu rừng nhỏ trong công viên Fairmount của Philadelphia. Giờ đây các buổi hòa nhạc này đã trở thành một nét truyền thống tại Philadelphia. Cũng trong năm này, Stokowski đã lần biểu diễn ra mắt khán giả Mỹ vở opera Wozzeck của Alban Berg. Năm 1931, kết hợp với Bell System, Philadelphia Orchestra và Stokowski đã thí nghiệm ghi âm stereo và trở thành dàn nhạc đầu tiên thu âm trên đĩa nhựa, do RCA phát hành. Năm 1936, dàn nhạc thực hiện chuyến lưu diễn chính thức đầu tiên của mình: một tour diễn xuyên lục địa, vòng quanh nước Mỹ. Do có những việc bất đồng với ban giám đốc dàn nhạc nên từ năm 1935, Stokowski đã ít gắn bó với dàn nhạc hơn trước và vào năm dàn nhạc cũng đã bổ nhiệm Eugene Ormandy (1899 - 1985) làm đồng nhạc trưởng của dàn nhạc. Năm 1938, Stokowski chính thức giã từ cương vị này, tuy nhiên ông vẫn còn nhiều lần quay trở lại làm việc cùng dàn nhạc. Năm 1939, Stokowski và dàn nhạc đã làm nên lịch sử về ngành truyền thông khi họ tham gia thu nhạc cho bộ phim hoạt hình “Fantasia” của hãng Walt Disney. Bộ phim mở đường này đã góp phần truyền bá nhạc giao hưởng vào nước Mỹ hơn bất cứ bộ phim truyện, truyền thanh hay bản ghi âm nào khác vào thời điểm đó. Trong bộ phim này ông đã chỉ huy các tác phẩm Toccata và Fugue giọng Rê thứ của J.S. Bach, Night on bald mountain (đêm trên đồi trọc) của Mussorgsky và Ave Maria. Ngoài ra ông thậm chí còn xuất hiện trong bộ phim khi nói chuyện và bắt tay với chú chuột Mickey (đây cũng là bộ phim thứ 3 mà Stokowski cùng dàn nhạc tham gia, 2 bộ phim trước là Big Broadcast và 100 Men and a Girl).
 
Nhạc trưởng đại tài người Mỹ gốc Hungary Eugene Ormandy đã thay thế Stokowski để làm giám đốc âm nhạc thứ 4 của Philadelphia Orchestra. Và ông nắm giữ cương vị này trong suốt 44 năm. Học violin và chỉ huy dàn nhạc tại nhạc viện Budapest, ông chuyển đến Mỹ năm 1921 và tham một số dàn nhạc tại đây với tư cách nghệ sỹ violin và nhạc trưởng. Trước khi chuyển đến Philadelphia, Ormandy làm giám đốc âm nhạc của Minneapolis Symphony Orchestra từ năm 1931 đến 1936. Lần đầu tiên Ormandy chỉ huy dàn nhạc là vào năm 1931 khi ông nhận được lời mời thay thế Arturo Toscanini (người thường xuyên cộng tác với Philadelphia Orchestra trong cương vị khách mời) bất ngờ bị ốm. Ormandy nhận cương vị đồng giám đốc Philadelphia Orchestra cùng Stokowski từ năm 1936, chỉ 2 năm sau, năm 1938, Ormandy một mình đảm trách cương vị này. Trong những năm tháng gắn bó với Philadelphia Orchestra, Ormandy đã phát triển dàn nhạc dựa trên nền tảng mà Stokowski đã xây dựng trong những năm trước đó. Philadelphia sound ngày càng được trau chuốt và đạt đến sự hoàn mỹ. Danh tiếng dàn nhạc đã lan ra phạm vi toàn thế giới. Kể từ sau chuyến xuất ngoại đầu tiên tới Vương quốc Anh vào năm 1949, Philadelphia Orchestra và Ormandy đã thực hiện nhiều chuyến lưu diễn tại Bắc Mỹ, châu Âu, Nam Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Trong đó đặc biệt đáng chú ý là chuyến biểu diễn đầu tiên tại châu Âu lục địa vào năm 1995 kết hợp với chuyến viếng thăm Jean Sibelius tại nhà riêng của nhà soạn nhạc vĩ đại; lần biểu diễn tại Liên Xô vào năm 1958 dẫn đến chuyến thăm dàn nhạc của nhạc sỹ lỗi lạc Dmitri Shostakovich tại Mỹ một năm sau đó và là dàn nhạc đầu tiên của Mỹ xuất hiện tại Trung Quốc vào năm 1973. Năm 1948, Philadelphia Orchestra trở thành dàn nhạc đầu tiên xuất hiện trên đài truyền hình quốc gia khi được hãng CBS phát sóng. Năm 1963, Philadelphia Orchestra là dàn nhạc đầu tiên của Mỹ thực hiện việc ký hợp đồng 52 tuần (cả năm) đối với những nhạc công trong dàn nhạc. Năm 1976, những buổi hòa nhạc ngoài trời định kì của dàn nhạc được chuyển đến một địa điểm mới tại Robin Hood Dell West, Fairmount Park, rất gần địa điểm cũ. Đến năm 1979, trung tâm này đổi tên thành Mann Center for the Performing Arts để ghi nhớ công lao của Fredric R. Mann (1903 - 1987) vị chủ tịch của Robin Hood Dell – một doanh nhân thành đạt đã có rất nhiều đóng góp tích cực và bền bỉ trong việc phát triển và mở rộng những chương trình hòa nhạc mùa hè ngoài trời của Philadelphia Orchestra trong hơn 50 năm. Trong nhiệm kỳ của mình, nối tiếp truyền thống của Stokowski, Ormandy đã cùng dàn nhạc thực hiện việc công diễn ra mắt nhiều tác phẩm ưu tú của những nhà soạn nhạc nổi tiếng như: Piano concerto số 3 của Bela Bartok (1946) hay tổ khúc âm nhạc dành cho ballet “Medea” của Samuel Barber (1947). Cùng với Ormandy, Philadelphia Orchestra đã thực hiện hàng trăm bản thu âm của rất nhiều tác giả khác nhau từ Baroque, Cổ điển tới Hiện đại, chủ yếu là với RCA Victor và Columbia Masterworks. Trong số những đĩa nhạc này, có 3 bản được công nhận là bản thu âm Vàng (bán được trên 1 triệu bản). Năm 1980, Ormandy trao lại quyền chỉ huy dàn nhạc cho Riccardo Muti, nhưng vẫn thường xuyên cộng tác với dàn nhạc trong cương vị chỉ huy danh dự. Buổi biểu diễn cuối cùng của ông với Philadelphia Orchestra diễn ra vào ngày 10 tháng 1 năm 1984 tại Carnegie Hall.
 
Nhạc trưởng người Ý Riccardo Muti sinh năm 1941 tại Bari. Khi thay thế Ormandy để trở thành chỉ huy dàn nhạc chính thức thứ 5 của Philadelphia Orchestra (mà ông cộng tác lần đầu tiên năm 1975) vào năm 1980 thì Muti vẫn đang là giám đốc âm nhạc của Philharmonia Orchestra – cương vị ông còn đảm nhận đến năm 1982. Khác với 2 người tiền nhiệm, Muti không cố gắng duy trì Philadelphia sound mà cố gắng dàn dựng và biểu diễn tác phẩm đúng với ý đồ của tác giả nhất. Điều này ban đầu đã gây ra tranh cãi khá gay gắt trong dàn nhạc. Tuy nhiên, Muti đã dập tắt những lời chỉ trích khi những buổi biểu diễn cũng như các bản ghi âm của ông và Philadelphia Orchestra trong các tác phẩm của Tchaikovsky, Brahms và các nhà soạn nhạc Lãng mạn khác đã nhận được những lời tán thưởng từ phía những nhà phê bình và công chúng. Là một người có khuynh hướng cách tân, Muti đã cùng dàn nhạc mở rộng hơn nữa danh mục tác phẩm biểu diễn của mình. Philadelphia Orchestra trong giai đoạn này đã biểu diễn rất nhiều các tác phẩm âm nhạc của những nhạc sĩ đương thời như William Bolcom hay Luciano Berio, thậm chí vào năm 1989 Muti còn mời nhạc sĩ người Mỹ Bernard Rands làm nhạc sỹ sáng tác chính cho dàn nhạc. Là một người Ý – quê hương của nghệ thuật opera, trong suốt những năm tháng gắn bó với Philadelphia Orchestra, Muti luôn đưa các tác phẩm opera vào danh mục tác phẩm biểu diễn định kỳ của dàn nhạc, bắt đầu từ năm 1983 với Macbeth của Giuseppe Verdi. Trong những năm tháng tiếp theo là hàng loạt các vở opera của Wagner, Verdi, Puccini và Leoncavallo. Năm 1986, Philadelphia Orchestra kỉ niệm 50 năm ngày thực hiện chuyến lưu diễn xuyên lục địa đầu tiên của mình bằng một tour diễn vòng quanh nước Mỹ. Năm 1988, Philadelphia Orchestra dưới sự chỉ huy của Muti đã trở thành dàn nhạc đầu tiên của Mỹ ghi âm trọn bộ 9 bản giao hưởng của Beethoven trên đĩa CD (cùng hãng ghi âm EMI Classics). Tháng 4 năm 1991, Muti và dàn nhạc thực hiện buổi hòa nhạc đầu tiên mang tên Martin Luther King, đến nay đã trở thành những buổi biểu diễn hàng năm có tính chất định kỳ. Từ năm 1986, Muti còn đảm nhận cương vị giám đốc âm nhạc của La Scala, Milan và rõ ràng rằng việc này đã hạn chế phần nào sự tập trung của ông dành cho Philadelphia Orchestra. Và ngay từ năm 1990, Philadelphia Orchestra đã thông báo rằng nhạc trưởng chính tiếp theo của dàn nhạc sẽ là Wolfgang Sawallisch. Mùa diễn 1991 – 1992 là mùa cuối cùng của Muti trên cương vị giám đốc âm nhạc của Philadelphia Orchestra.
 
Kể từ năm 1993, nhạc trưởng, nghệ sỹ piano người Đức Wolfgang Sawallisch trở thành nhạc giám đốc âm nhạc thứ 6 của Philadelphia Orchestra. Sinh năm 1923, trước đó Sawallisch đã rất nổi tiếng khi ông từng chỉ huy Berlin Philharmonic khi mới 30 tuổi và đến nay vẫn là người trẻ nhất có được vinh dự này. Lần đầu tiên chỉ huy Philadelphia Orchestra vào năm 1966 và cộng tác với dàn nhạc một cách thường xuyên từ năm 1984. Ngay khi vừa có được vị giám đốc âm nhạc mới, Philadelphia Orchestra đã có chuyến lưu diễn tại Nhật Bản, Trung Quốc và Hồng Kông, trong đó buổi biểu diễn tại Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh là để kỉ niệm lần đầu xuất hiện của dàn nhạc tại đây 20 năm về trước. Tiếp nối truyền thống tốt đẹp có từ thời Stokowski, từ năm 1994, dàn nhạc thực hiện một dự án mang tên "Sound All Around" với mục đích phổ cập âm nhạc cổ điển đến những em học sinh nhỏ tuổi. Năm 1997, Philadelphia Orchestra là dàn nhạc đầu tiên của nước Mỹ thực hiện truyền hình trực tiếp một buổi hòa nhạc của dàn nhạc thông qua internet. Tháng 5 năm 1999, Philadelphia Orchestra trở thành dàn nhạc đầu tiên của nước Mỹ đến biểu diễn tại Việt Nam. Đỉnh cao của sự kết hợp giữa Philadelphia Orchestra và Sawallisch là mùa diễn 1997 – 1998 khi dàn nhạc có được sự cộng tác của rất nhiều nghệ sỹ tên tuổi như Reneé Fleming, Sarah Chang, Frank Peter Zimmermann, Yefim Bronfman và Yo-Yo Ma. Trong mùa diễn 1999 - 2000 kỉ niệm 100 năm ngày thành lập dàn nhạc, Philadelphia Orchestra đã cho phát hành bộ 12 đĩa CD “Philadelphia Orchestra Centennial Collection: Historic Broadcasts and Recordings 1917-1998” và cùng với Temple University Press cho xuất bản cuốn sách khổ lớn về lịch sử dàn nhạc: “Philadelphia Orchestra - A Century of Music”; bên cạnh đó là rất nhiều buổi hòa nhạc lớn tại hầu hết những thành phố lớn tại Bắc Mỹ, Nhật Bản và châu Âu. Ngày 14 tháng 12 năm 2001, Philadelphia Orchestra chuyển đến ngôi nhà mới Kimmel Center for the Performing Arts. Trung tâm này có 2 phòng hòa nhạc: phòng lớn Verizon Hall 2500 chỗ ngồi để dành cho những chương trình có quy mô và phòng nhỏ Perelman Theater 650 chỗ cho các chương trình thính phòng. Dưới sự chỉ huy của Sawallisch, dàn nhạc đã lần đầu tiên trình diễn tác phẩm War Requiem của Benjamin Britten. Tháng 1 năm 2002 tại Carnegie Hall, lần đầu tiên Piano Concerto ("Resurrection") của Krzysztof Penderecki được công diễn với sự tham gia của Philadelphia Orchestra và Sawallisch, nghệ sĩ độc tấu piano là Emanuel Ax. Tháng 9 năm 2002, Sawallisch bắt đầu năm thứ 10 và cũng là năm cuối cùng với cương vị giám đốc âm nhạc của Philadelphia Orchestra với 5 tuần lễ Schumann Festival. Kết thúc mùa diễn 2002 – 2003, Sawallisch trở thành giám đốc danh dự của dàn nhạc.
 
Tháng 9 năm 2003, nhạc trưởng người Đức Christoph Eschenbach chính thức trở thành giám đốc âm nhạc thứ 7 của Philadelphia Orchestra. Sinh năm 1940, trước khi trở thành một nhạc trưởng, Eschenbach được biết đến với tư cách một nghệ sĩ piano tài năng, ông đã có khá nhiều bản thu các tác phẩm dành cho piano độc tấu và hòa tấu thính phòng của Mozart, Schumann, Brahms cho Deutsche Grammophon. Trước khi là nhạc trưởng của Philadelphia Orchestra, Eschenbach đã có buổi công diễn Piano concerto số 1 của Beethoven với chính dàn nhạc này dưới sự chỉ huy của Sawallisch vào tháng 10 năm 2002. Hiện tại ông cũng đang là giám đốc âm nhạc của Orchestre de Paris, cương vị mà ông đảm nhận từ năm 2000. Dấu ấn lớn nhất của Eschenbach với Philadelphia Orchestra cho đến thời điểm này là biểu diễn toàn bộ giao hưởng của Gustav Mahler trong tháng 2 và 3 năm 2004. Cũng trong tháng 3 này, dàn nhạc đã có lễ kỉ niệm 100 năm ngày thành lập The Volunteer Committees for The Philadelphia Orchestra – một tổ chức thành lập năm 1904 với chức năng rất quan trọng là xây dựng quỹ cho dàn nhạc, tổ chức các buổi quyên góp , trao tặng những giải thưởng danh dự của dàn nhạc trong đêm mở màn mùa diễn (Opening night).
 
Hiện tại, biên chế của Philadelphia Orchestra bao gồm gần 150 nhạc công và dàn nhạc có khoảng 300 buổi biểu diễn hàng năm. Ngoài ngôi nhà Kimmel Center for the Performing Arts, Philadelphia Orchestra còn nhiều lần xuất hiện tại Carnegie Hall cũng như luôn duy trì đều đặn các buổi biểu diễn mùa hè tại Mann Center for the Performing Arts và Saratoga Performing Arts Center, New York. Kể từ năm 1990, nhạc trưởng người Thụy Sĩ Charles Dutoit được chỉ định là nhạc trưởng chính thức trong các festival mùa hè của Philadelphia Orchestra.
 
cobeo (nhaccodien.info) tổng hợp

View: 3254  -  Nguồn: nhaccodien.info  -  Cập nhật lần cuối: 09:34 05/01/2011  -  Quay lại
© Trang thông tin âm nhạc cổ điển do Bút nhóm nhaccodien.info xây dựng.
® Ghi rõ nguồn "nhaccodien.info" khi phát hành lại thông tin từ website này.                                Thiết kế: Lê Long - Code: Kal Kally