Nhạc viện


Hãng thu âm


Nhà hát và phòng hòa nhạc


Cuộc thi và liên hoan âm nhạc


Nghệ nhân và hãng làm đàn


Nhóm nhạc hòa tấu


Dàn nhạc và hợp xướng

Lịch sử hãng thu âm Deutsche Grammophon

Thập kỷ đầu tiên (1898-1909)

   Lịch sử của Deutsche Grammophon song hành với sự ra đời của ngành thu thanh. Tháng 6 năm 1898, hãng được sáng lập tại Hanover, cùng thời điểm với sự ra đời của đĩa than và máy ghi âm. Hai giám đốc điều hành của Deutsche Grammophon khi đó là Emile Berliner (sinh tại Hanover năm 1851, di cư sang Mỹ năm 1870) - nhà đồng phát minh ra đĩa than và đầu đọc - và em trai ông, Joseph. Cũng trong năm này, hai bạn làm ăn của Emile là William Barry Owen và Fref Gaisberg đã thành lập Gramophone Company ở London. Ngay từ năm 1900, khi Deutsche Grammophon Gesellschaft chuyển trụ sở tới Berlin, đĩa than của Berliner đã làm lu mờ hình ảnh máy hát với ống quay hình trụ của Edison và được tôn làm chuẩn mực của ngành công nghiệp. Cùng thời điểm đó, Gaisberg phụ trách việc quảng bá tên tuổi của hãng bằng cách hợp tác với các nghệ sĩ nổi tiếng đương thời. Enrico Caruso thu âm lần đầu với Gramophone Company ở Milan năm 1902. Giọng bass người Nga Chaliapin trở thành ca sĩ đầu tiên được vinh danh nhờ công nghệ thu âm. Năm 1904, hãng chào mời được soprano vĩ đại Nellie Melba tới ghi âm. Một năm sau đó, Gaisberg cùng đội ngũ kỹ thuật và một lô máy móc đặt chân đến lâu đài xứ Galle của Adelina Patti - coloratura soprano xuất sắc nhất thế giới, sau Melba. Chỉ trong thập kỷ đầu thành lập, Deutsche Grammophon  nhanh chóng trở thành đối tác hàng đầu của hoàng gia Anh và Tây Ban Nha. Từ năm 1907, nhà máy ở Hanover đưa vào vận hành hai trăm máy ghi đĩa và lần đầu tiên sản xuất đĩa hai mặt.

   Các nghệ sĩ danh tiếng khác đã thu âm với Deutsche Grammophon trong thời kỳ đầu gồm có: Alessandro Moreschi (nghệ sĩ castrato cuối cùng), Emma Calvé, Antonio Scotti, Leo Slezak, Francesco Tamagno (diễn viên đầu tiên đóng vai Otello trong vở Opera cùng tên của Verdi), Josef Hofmann, Alfred Grünfeld, Elena Gerhardt…
 
Thập kỷ thứ hai (1910-1919)

   Bản thu âm có dàn nhạc đầu tiên của Deutsche Grammophon  trong thập kỷ thứ hai được thực hiện vào năm 1910. Đó là chương một piano concerto của Grieg, với  Wilhelm Backhaus, nghệ sĩ mà hai năm trước đã thu âm lần đầu tại hãng với một số đoạn trích từ bộ "Bình quân luật" của Bach. Năm 1911, một nghệ sĩ piano nổi tiếng khác, Ignace Jan Paderewski, đã cho ra mắt đĩa thu âm đầu tay với hãng. Năm 1913, lần đầu tiên Deutsche Grammophon thu âm một tác phẩm lớn cho dàn nhạc: Giao hưởng số 5 của Beethoven, với Berlin Philharmonic  dưới đũa chỉ huy của nhạc trưởng Arthur Nikisch. Cùng thời điểm, có một bản thu đình đám khác: một số trích đoạn trong vở opera Parsifal của Wagner, do Alfred Hertz chỉ huy Berlin Philharmonic. Đầu Thế chiến I, toàn bộ lợi nhuận của hãng bị chính phủ Đức trưng thu cho chiến tranh, với lý do Deutsche Grammophon có dính dáng tới nước Anh. Năm 1916, hai công ty đặt tại Đức và Anh tách ra, công ty ở Đức tiếp tục giữ tên Deutsche Grammophon. Công ty ở Anh là tiền thân của hãng EMI sau này. Deutsche Grammophon không được sử dụng tiếp câu slogan “His Master’s Voice” và không được xuất khẩu các bản thu âm ra nước ngoài. Vì không thể bán bản thu của các tên tuổi lớn như Caruso, Melba và Patti, hãng bắt tay vào xây dựng danh mục mới. Trong các năm sau, hãng tiến hành thu âm cho các nghệ sĩ lớn nhất của Đức và châu Âu.

   Các nghệ sĩ và tổ chức đã hợp tác với Deutsche Grammophon trong thập kỷ này: Wilhelm Backhaus, Mattia Battistini, Michael Bohnen, Julia Culp, Claire Dux, Alfred Hertz, Lotte Lehmann, Richard Mayr, Arthur Nikisch, Ignace Jan Paderewski, Heinrich Schlusnus và Berlin Philharmonic.

Thập kỷ thứ ba (1920-1929)

   Năm 1920, Deutsche Grammophon thu âm lần đầu cho Wilhelm Kempff lúc đó mới 25 tuổi với các tác phẩm của Beethoven, ca sĩ Elisabeth Schumann với aria Non so più trong vở opera Le nozze di Figaro (Đám cưới Figaro). Deutsche Grammophon vạch ra một hướng đi mới, nhờ các nghệ sĩ lớn như soprano Maria Ivogün, nhạc trưởng Hans Pfitzner, Leo Blech và Hermann Abendroth, và một quan điểm mới về hình thức thu âm, đó là đề cao các bản thu đầy đủ. Năm 1921, Frida Leider thu Salutation d’Elisabeth trong vở Tannhäuser của Wagner và Richard Strauss giới thiệu bariton Heinrich Schlusnus, người về sau trở thành một trong những giọng ca vàng của hãng. Năm 1924, Deutsche Grammophon được phép tái sử dụng câu slogan “His Master’s Voice” với logo hình chú chó Nipper cũng như các sản phẩm trước chiến tranh để phát hành tại Đức. Cùng lúc đó logo Polydor hình chiếc đĩa được sáng tạo để in lên các bản thu bán ra nước ngoài. Trong giai đoạn này, các bản thu chủ yếu là của Wagner, với dàn nhạc lâu đời Berlin Staatskapelle và nhạc trưởng Leo Blech hay Berlin Philharmonic cùng nhạc trưởng Max von Schillings. Năm 1925, với hệ thống thu âm mới, hãng đã tiến hành ghi 9 bản giao hưởng của Beethoven, chủ yếu với Oskar Fried và dàn nhạc Berlin Staatskapelle, cùng các bản giao hưởng đồ sộ như Giao hưởng số 9 của Bruckner và Giao hưởng số 2 của Mahler. Năm 1926, nhạc trưởng huyền thoại Wilhelm Furtwängler đã xóa bỏ hoài nghi với đĩa nhạc, ông đồng ý thu âm Giao hưởng số 5 của Beethoven, Overture Freischütz của Weber với Berlin Philharmonic. Năm 1927, “năm vinh danh Beethoven”, hãng mua lại thương hiệu Brunswick của Mỹ. Tới lúc này catalogue của Deutsche Grammophon đã bao gồm: "Adagio số 8" của Bruckner (do Klemperer chỉ huy), Giao hưởng “Oxford” của Haydn (nhạc trưởng Hans Knappertsbusch), Giao hưởng số 39 và “Jupiter” của Mozart (Strauss chỉ huy), Giao hưởng số 6 “Pathétique” của Tchaikovsky (Bruno Walter chỉ huy) và bản Overture “Die Fledermaus” (Erich Kleiber chỉ huy), tất cả đều thu với dàn nhạc Berlin Staatskapelle. Từ năm 1926 đến 1933, dàn nhạc này cũng ghi âm các bản thơ giao hưởng của Strauss dưới sự chỉ huy của chính nhà soạn nhạc. Năm 1928 và 1929, khi hai anh em Emile và Joseph Berliner lần lượt qua đời, Deutsche Grammophon đã đạt được doanh thu gần mười triệu đĩa. Nhà máy ở Hanover có 600 công nhân.

   Các nghệ sĩ và nhóm nhạc đã hợp tác với Deutsche Grammophon trong giai đoạn này: Eugen d’Albert, Rosette Anday, Leo Blech, Karin Branzell, Adolf Busch, Fritz Busch, Busch-Quartett, Gaspar Cassado, Mischa Elman, Carl Flesch, Oskar Fried, Felicie Hüni-Mihacsek, Maria Ivogün, Alfred Jerger, Alexander Kipnis, Erich Kleiber, Raoul von Koczalski, Fritz Kreisler, Georg Kulenkampff, Emmi Leisner, Josef von Manowarda, Lauritz Melchior, Erica Morini, Maria Olszewska, Sigrid Onegin, Koloman von Pataky…
 
Thập kỷ thứ tư (1930-1939)

   Năm 1930, chi nhánh mới của hãng ở Pháp, hãng thu thanh Polydor SA, đã thu âm bản Boléro của Ravel, do chính nhạc sĩ chỉ huy dàn nhạc Lamoureux. Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã làm đình trệ việc kinh doanh đĩa. Năm 1932, Deutsche Grammophon hợp nhất với hãng Polyphon và quay về gây dựng lại Hanover. Năm 1937, qua nhiều năm sản xuất tụt dốc, Deutsche Grammophon AG bắt buộc phải giải thể. Sau đó, hãng được tái lập dưới tên Deutsche Grammophon  GmbH, do Deutsche Bank và Telefunken Gesellschaft tài trợ. Dù bị phát xít Đức hạn chế và kiểm soát ngày càng nhiều, những bản thu tuyệt vời vẫn tiếp tục được ghi âm. Tháng 12 năm 1938 đánh dấu sự ra đời đĩa thu âm đầu tiên của Herbert von Karajan: Overture vở Die Zauberflöte (Cây sáo thần) của Mozart với dàn nhạc Berlin Staatskapelle.

   Ngoài những nghệ sĩ quen thuộc trong giai đoạn trước, những nghệ sĩ tên tuổi khác hợp tác với Deutsche Grammophon trong giai đoạn này không thể không kể đến các nhạc trưởng Paul van Kempen, Carl Schuricht và Victor de Sabata; các nghệ sĩ piano Elly Ney, Claudio Arrau; nghệ sĩ violin Georg Kulenkampff; và các giọng ca Erna Berger, Tiana Lemnitz, Walther Ludwig và Julius Patzak…
 
Thời kỳ thứ năm (1940-1949)

   Sau khi Thế chiến II nổ ra, đối diện với những thiếu thốn vật chất, Deutsche Grammophon một lần nữa rơi vào tình trạng đình đốn trước khi được tập đoàn điện tử Siemens & Halske phục hồi lại vào năm 1941. Các dự án thu âm vẫn diễn ra, bất chấp sự kìm kẹp của phát xít Đức. Đáng chú ý là bản thu hoàn chỉnh của Matthäus-Passion BWV 244 của Bach, do Bruno Kittel chỉ huy năm 1942. Đĩa được chuyên chở về Nhật Bản bằng tàu ngầm, và ở Nhật, Nippon Polydor đã bán được 17.000 bản. Ngày 9 tháng 5 năm 1942, Đức quốc xã ra lệnh cấm Deutsche Grammophon hợp tác với các nghệ sĩ Do Thái và bắt phải tiêu hủy toàn bộ đĩa nhạc do họ thể hiện. Tuy vậy, trong năm 1942 và 1943, một số bản ghi vẫn ra đời và được đón nhận nồng nhiệt: bản thu Karajan với dàn nhạc Berlin Staatskapelle, dàn Concertgebouw, Berlin Philharmonic và dàn RAI Orchestra (Turin). Vào năm 1943 là bản thu tác phẩm thơ giao hưởng Ein Heldenleben (Cuộc đời nghệ sĩ) do Strauss sáng tác và chỉ huy. Cuối chiến tranh, một xưởng sản xuất nhỏ được mở tại Berlin, cùng lúc hãng xây dựng lại nhà máy và các công trình đã bị tàn phá ở Hanover. Năm 1946, Deutsche Grammophon trở thành công ty đầu tiên trên thế giới thực hiện thu âm trên băng từ. Năm sau, Archiv Produktion được thành lập nhằm khuyến khích việc biểu diễn các tác phẩm từ thời Baroque trở về trước - những album đầu tiên tôn vinh các tác phẩm của Bach, do nghệ sĩ organ người Đức Helmut Walcha biểu diễn tại nhà thờ Saint James ở Lübeck. Helmut Walcha tiếp tục hợp tác với hãng trong vòng ba năm sau đó. Năm 1949, quyền sử dụng câu slogan “His Master’s Voice” ở Đức được nhượng lại cho công ty Electrola (hãng EMI ở Đức). Từ đây Deutsche Grammophon bắt đầu đưa vào sử dụng logo màu vàng với bông hoa tulip đội vương miện. Eugen Jochum, Ferenc Fricsay (người trở thành trụ cột của hãng những năm 50) và Dietrich Fischer-Dieskau là những người đầu tiên có đĩa thu âm với logo mới.

   Các nghệ sĩ lớn đã hợp tác với Deutsche Grammophon trong thời kỳ này: Adrian Aeschbacher, Géza Anda, Eduard van Beinum, Helena Braun, Maria Cebotari, Karl Elmendorff, Alfons Fügel, Christel Goltz, Josef Greindl, Hilde Güden, Herbert von Karajan, Clemens Krauss, Max Lorenz, Leopold Ludwig, Walther Ludwig, Maria Müller…

Thập kỷ thứ sáu (1950-1959)

   Năm 1950 chào đón sự ra đời loại đĩa 78 vòng/phút, với các đường rãnh do Deutsche Grammophon phát minh. Năm tiếp theo, hãng sản xuất ra loại đĩa vinyl 33 vòng/phút (còn được gọi là đĩa LP), với thời gian dài hơn. Đĩa có nhiều màu, song phổ biến là màu đen.

   Wilhelm Kempff tiến hành ghi âm toàn bộ các bản sonata cho piano của Beethoven năm 1950 và các concerto cho piano năm 1953. Ông cũng thu stereo lại tất cả trong những năm 60. Furtwängler quay lại hợp tác cùng Deutsche Grammophon vào năm 1951. Nhóm Tứ tấu Amadeus và nghệ sĩ violin Wolfgang Schneiderhan thu âm lần đầu với Deutsche Grammophon năm 1951 và 1952. Năm 1959, sau Brahms, Haydn, Mozart và Schubert, nhóm Amadeus chuyển sang thu stereo các tứ tấu của Beethoven. Cùng năm, Karajan từ giã EMI, trở về với Deutsche Grammophon. Suốt ba mươi năm sau, ông thực hiện xấp xỉ 330 đĩa cho Deutsche Grammophon, trong đó có ba đĩa trọn bộ các tác phẩm của Beethoven. Hai nhạc trưởng khác đóng vai trò quan trọng trong việc khẳng định vị thế của Deutsche Grammophon sau chiến tranh là Karl Böhm và Rafael Kubelik. Karl Böhm ghi âm chủ yếu Mozart và Richard Strauss. Rafael Kubelik tập trung vào Dvorák và Smetana, ngoài ra còn có vở opera Lohengrin và giao hưởng của Mahler. Nhạc trưởng Mỹ Lorin Maazel ký kết hợp đồng với Deutsche Grammophon năm 1957.

    Trong vài thập kỷ đầu, Archiv Produktion đi tiên phong trong việc thu âm các tác phẩm âm nhạc thời Trung cổ và Phục Hưng. Nhưng về sau, nhãn hiệu này gắn liền với thời kỳ Baroque, đặc biệt là các tuyệt phẩm cho organ của Bach (do nghệ sĩ organ Walcha biểu diễn) và danh mục các tác phẩm của Đức, Ý dưới sự chỉ huy của Rudolf Baumgartner, Fritz Lehmann, August Wenzinger, Karl Richter. Năm 1956, hãng chuyển trụ sở chính đến Hamburg. Các nhà máy vẫn tiếp tục hoạt động tại Hanover. Năm tiếp theo, Deutsche Grammophon giới thiệu nhãn hiệu mới với khung màu vàng.

   Ngoài các nghệ sĩ kể trên, nhiều nghệ sĩ lớn khác có bản thu tại Deutsche Grammophon trong thời kỳ này phải kể đến: Jörg Demus, Anton Dermota, Annie Fischer, Sviatoslav Richter, Evgeny Mravinsky, Ferenc Fricsay, Dietrich Fischer-Dieskau, Fritz Lehmann, David Oistrakh, Igor Oistrakh, Helmut Roloff, Hans Rosbaud…


Thập kỷ thứ bảy (1960-1969)

   Năm 1960, Deutsche Grammophon ký hợp đồng với nữ nghệ sĩ piano Martha Argerich, cô đồng hành cùng hãng trong suốt những thập kỷ về sau. Năm 1962, Deutsche Grammophon tung ra bản thu âm stereo đầu tiên trọn vẹn chín bản giao hưởng của Beethoven, do Karajan chỉ huy dàn Berlin Philharmonic. Những năm đầu của thập kỷ thứ bảy, hãng thu các vở opera của Verdi tại Nhà hát Opera La Scala (Milan, Ý). Trong số những dự án quan trọng ở giai đoạn này, phải kể đến bản thu toàn bộ các ca khúc lieder của Schubert, do giọng bariton Fischer-Dieskau thể hiện. Ông cũng thu âm một số lượng lớn các lieder của Brahms, Liszt, Schumann và Wolf. Năm 1969, nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh Beethoven (1970), Deutsche Grammophon phát hành bộ Beethoven Edition gồm 76 đĩa. Các bộ khác, với sự chuẩn bị công phu không kém, được ra mắt trong những năm sau: trọn bộ Beethoven (1977 và 1997); Bach (1975 và 1985); Brahms (1983 và 1997); và Berg (1985). Năm 1962, hai hãng điện tử Siemens và Philips hợp nhất cùng đầu tư vào lĩnh vực thu âm, thiết lập nên tập đoàn DGG/PPI (Philips Phonographic Industry). Tuy nhiên, Deutsche Grammophon vẫn giám sát hoạt động thu âm của mình và tự in catalogue.

   Các nghệ sĩ lớn hợp tác cùng Deutsche Grammophon trong giai đoạn này: Claudio Abbado, José van Dam, Martha Argerich, Christoph Eschenbach, Pierre Fournier, Maurice André, Janet Baker, Friedrich Gulda, Thomas Brandis, Charles Munch, Rafael Kubelik, Frank Martin…

Thập kỷ thứ tám (1970-1979)

   Năm 1971, tập đoàn DGG/PPI được cải tổ lại, tạo tiền đề cho công ty thu âm PolyGram hình thành, có trụ sở đặt tại Baarn (Hà Lan) và Hamburg. Để quảng bá cho sinh nhật lần thứ 75 của mình, năm 1973, Deutsche Grammophon cho ra mắt bộ “The Symphony” (Thế giới nhạc giao hưởng), gồm 93 đĩa. Cũng trong thập kỷ này, Deutsche Grammophon tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động trên toàn thế giới, với một series các bản thu đặc biệt bắt đầu từ năm 1971 của nghệ sĩ piano người Ý Arturo Benedetti Michelangeli. Năm 1972, ba chỉ huy dàn nhạc danh tiếng chính thức hợp tác dài hạn với Deutsche Grammophon: Daniel Barenboïm (kiêm nghệ sĩ piano), Seiji Ozawa, và trên hết là Leonard Bernstein, ông đã trở thành nhạc trưởng độc quyền của Deutsche Grammophon vào năm 1981. Bernstein lên danh mục một loạt những bản giao hưởng của các tác giả người Áo và Đức, hầu hết trong số này được thu trực tiếp ở những buổi hòa nhạc với Vienna Philharmonic. Ngoài ra, Bernstein cũng thu âm các sáng tác của chính ông và của các nhạc sĩ người Mỹ. Bản thu âm huyền thoại cho vở ca kịch West Side Story năm 1985 (âm nhạc: Leonard Bernstein, lời: Stephen Sondheim, kịch bản: Arthur Laurents) đã trở thành một trong những album bán chạy nhất trong lịch sử Deutsche Grammophon. Carlos Kleiber ghi âm với hãng lần đầu năm 1973, đó là bản thu vở opera Der Freischütz của Carl Maria von Weber. Ông tiếp tục thu các vở La Traviata, Die Fledermaus, Tristan và các tác phẩm giao hưởng của Beethoven, Brahms và Schubert. Năm 1978, thời kỳ rực rỡ của Deutsche Grammophon hé mở khi nghệ sĩ violin Anne-Sophie Mutter thực hiện bản ghi âm đầu tiên ở tuổi mười bốn, cùng Berlin Philharmonic và Karajan. Gidon Kremer cũng bắt tay cộng tác với các dự án của Deutsche Grammophon. Các bản thu của nhóm Tứ tấu LaSalle đã giành được rất nhiều giải thưởng lớn. Archiv Produktion ký hợp đồng độc quyền với nghệ sĩ violin Reinhard Goebel năm 1977 và với nghệ sĩ Harpsichord là Trevor Pinnock vào năm sau. Năm 1978, nhạc trưởng người Anh John Eliot Gardiner thu âm lần đầu tại Archiv Produktion với dàn  English Baroque Soloists. Năm 1980, PolyGram mua lại Decca Records.

   Các nghệ sĩ lớn cộng tác với Deutsche Grammophon trong thời kỳ này: Salvatore Accardo, Pierre Boulez, Alfred Brendel, Emil Gilels, Sir Yehudi Menuhin, Carlo Maria Giulini, Montserrat Caballé, Plácido Domingo, Nathan Milstein…

Thập kỷ thứ chín (1980-1989)

   Nhạc sĩ kiêm nhạc trưởng người Ý Giuseppe Sinopoli có bản thu âm đầu tiên với Deutsche Grammophon năm 1980. Sau ba năm, ông trở thành người đầu tiên người ký nhiều dự án lâu dài nhất với Deutsche Grammophon, thể hiện qua việc thu trọn bộ Mahler, Brahms và nhiều dự án thu âm opera khác. Năm 1987, James Levine trở thành nghệ sĩ độc quyền của Deutsche Grammophon. Levine chỉ huy toàn bộ các giao hưởng và concerto cho violin của Mozart, với phần độc tấu của Itzhak Perlman và dàn Vienna Philharmonic, cả bộ bốn vở thuộc cycle opera Ring của Wagner cùng nhà hát Opera Metropolitan. Sau khi nghệ sĩ piano Kempff lui về ở ẩn, ba nghệ sĩ piano danh giá nhất của hãng, Martha Argerich, Maurizio Pollini và Krystian Zimerman bắt đầu thu âm các tác phẩm trong danh mục mà Kempff từ chối biểu diễn, chủ yếu là của Chopin, Liszt và các tác phẩm trong thế kỷ XX. Tài năng trẻ Ivo Pogorelich, người được mệnh danh là “Phù thủy của cây đàn piano”, bắt đầu thu âm với hang vào năm 1981. Vài năm sau, hai tên tuổi lớn trong làng piano đến với Deutsche Grammophon: Rudolf Serkin (1981) và Vladimir Horowitz. Trong một thời gian ngắn, từ năm 1985 đến 1989, năm album của Horowitz đã đạt được những thành công vang dội. Trong thập kỷ này, nhiều nghệ sĩ đã trở lại với Deutsche Grammophon: các ca sĩ như Kathleen Battle (1984), Anne Sofie von Otter (1985), Bryn Terfel (1993) và Thomas Quasthoff (1999); nghệ sĩ cello Mischa Maisky (1982); nghệ sĩ piano Maria João Pires (1989), sau cùng là các nhóm tứ tấu Hagen (1985), Emerson (1987). Cuối năm 1984, Siemens bán lại 40% cổ phần PolyGram International cho Philips, và bán nốt 10% năm 1987. Năm 1986, các nhà máy ở Hanover, nơi sản xuất đầu tiên và quan trọng nhất, cũng được Philips mua lại cho PolyGram. Năm 1987, cùng với các thương hiệu anh em là Philips và Decca, Deutsche Grammophon bắt đầu phát hành video cassette và đĩa ghi hình các buổi hòa nhạc và biểu diễn opera, mở ra một kỷ nguyên mới cho việc thu hình các buổi biểu diễn nhạc cổ điển.

   Một số nghệ sĩ đã cộng tác với Deutsche Grammophon trong thập kỷ này: Yo-Yo Ma, Kyung-Wha Chung, Riccardo Chailly, Neeme Järvi, James Morris, Stanislav Bunin…

Thập kỷ thứ mười (1990-1999)

  Trong hai năm 1989 và 1990, cả thế giới đau đớn vĩnh biệt hai nhạc trưởng vĩ đại Herbert von Karajan và Leonard Bernstein, những người đã cộng tác lâu dài cùng Deutsche Grammophon. Bù đắp lại những mất mát ấy, hai chỉ huy dàn nhạc khác đã nhanh chóng tạo dựng nên guồng làm việc mới tại Deutsche Grammophon: Pierre Boulez và André Previn. Họ tập trung vào các tác phẩm thuộc thế kỷ XX, trong đó có những sáng tác của chính họ. Với nhãn hiệu Archiv Produktion, John Eliot Gardiner chỉ huy các tác phẩm thời Baroque (các vở oratorio của Bach và opera của Monteverdi), các tác phẩm thời Cổ điển (opera của Mozart, giao hưởng của Beethoven) và thời kỳ Lãng mạn. Những hợp đồng mới được ký kết với các nhạc trưởng Myung-Whun Chung (năm 1990), Oliver Knussen và Christian Thielemann (năm 1995). Archiv Produktion ngày càng được đưa lên tầm quốc tế, nhờ việc hợp tác với Paul McCreesh và Gabrieli Consort & Players; Marc Minkowski và nhóm Musiciens du Louvre; cũng phải kể đến Piffaro - nhóm nhạc công chuyên bộ hơi theo phong cách thời Phục Hưng. Năm 1998, công ty Seagram mua lại và hợp nhất PolyGram với Universal, xây dựng nên hãng thu lớn nhất thế giới Universal Music Group. Deutsche Grammophon trở thành ngôi nhà chung lớn nhất và thịnh vượng nhất của âm nhạc cổ điển đương thời. Deutsche Grammophon đã kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 vào năm 1998.

   Những nghệ sĩ đã cộng tác với Deutsche Grammophon trong giai đoạn này: Cecilia Bartoli, Luciano Pavarotti, Evgeny Kissin…

Thập kỷ thứ mười một (2000-2009)

   Mở đầu thiên niên kỷ mới, Universal Music mua lại tập đoàn Vivendi, bổ sung vào ngôi nhà chung những phương tiện thông tin hiện đại nhất. Từ tháng 7 năm 2001, Michael Lang trở thành tổng giám đốc và sau đó lên nắm cương vị chủ tịch Deutsche Grammophon. Tham vọng của ông là “tái sinh”: Deutsche Grammophon tìm kiếm các tài năng và biến họ trở thành nghệ sĩ độc quyền của hãng.

   Các hợp đồng đã được ký kết trong giai đoạn này: Ca sĩ: Anna Netrebko (2002), Rolando Villazón (2005), Measha Brueggergosman, Elīna Garanča và René Pape (2006), Patricia Petibon (2008), Ildebrando D’Arcangelo (2009). Nghệ sĩ piano: Hélène Grimaud (2002), Lang Lang (2003), Rafał Blechacz (2006), Pierre-Laurent Aimard (2007), Yuja Wang và Alice Sara Ott (2008). Nghệ sĩ violin: Hilary Hahn (2002), Giuliano Carmignola (2003), Vadim Repin (2006), Daniel Hope (2007).

   Cũng trong thập kỷ này chúng ta phải chứng kiến sự ra đi của các nhạc trưởng huyền thoại Giulini, Kleiber và Sinopoli. May sao một thế hệ nhạc trưởng mới lại đến với Deutsche Grammophon: Esa-Pekka Salonen và Andrea Marcon (2003), Gustavo Dudamel (2005), Daniel Harding (2006). Sân khấu chào đón Osvaldo Golijov, nhạc sĩ lừng danh đã giới thiệu chuỗi các ca khúc Ayre năm 2005, khởi đầu một series thu âm tại Deutsche Grammophon. Năm 2003, một loạt album được tung ra, thâu tóm toàn bộ nền âm nhạc thế giới, gặt hái nhiều thành công vang dội: nhạc phim Motorcycle Diaries, sự xuất hiện của nghệ sĩ Mercedes Sosa, và nhiều dự án hấp dẫn khác như album nhạc tango Café de los Maestros. Từ năm 2006, hãng thực hiện một series mới mang tên Deutsche Grammophon Concerts (Hòa nhạc của Deutsche Grammophon). Series bao gồm các bản thu trực tiếp, có chất lượng âm thanh cực tốt. Chỉ cần với iTunes và kết nối Internet, thính giả có thể thưởng thức các buổi hòa nhạc trong nhà hát ngay tại nhà. Deutsche Grammophon nhanh chóng trở thành thương hiệu hàng đầu đối với những người yêu nhạc cổ điển muốn mua đĩa qua mạng Internet. Website bán hàng trực tuyến của hãng, Deutsche Grammophon Web Shop, được ra mắt vào năm 2007. Hiện nay, catalogue đầy đủ của hãng có mặt tại hơn 180 nước trên thế giới. Mặt khác, hãng cũng cho khách tải về hơn 1.000 bản thu âm cổ. Bắt đầu từ năm 2008, việc đặt hàng qua mạng được mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu mua CD và DVD của khách hàng châu Âu.

   Phần thưởng cho những thành tựu nổi bật của DG: Năm 2007, Deutsche Grammophon được tạp chí Gramophone bình chọn là “nhãn hiệu của năm”. Tạp chí đã viết: “Deutsche Grammophon thể hiện tất cả những điều tốt đẹp nhất trong âm nhạc cổ điển.

Nguyễn Phương Anh
(nhaccodien.info) dịch

 


View: 5934  -  Nguồn: deutschegrammophon.com  -  Cập nhật lần cuối: 05:06 02/05/2012  -  Quay lại
© Trang thông tin âm nhạc cổ điển do Bút nhóm nhaccodien.info xây dựng.
® Ghi rõ nguồn "nhaccodien.info" khi phát hành lại thông tin từ website này.                                Thiết kế: Lê Long - Code: Kal Kally